Xã hội

Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cho rau an toàn

Lam Ngọc 10/06/2026 07:13

Dù nhu cầu tiêu dùng rau an toàn ngày càng tăng, diện tích rau đạt chứng nhận VietGAP hiện chỉ chiếm 0,5 - 0,6% tổng diện tích canh tác. Các chuyên gia cho rằng cần một bộ tiêu chuẩn phù hợp hơn với điều kiện sản xuất của nông hộ và hợp tác xã.

img_2486.jpg
Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Lam Ngọc

Diện tích rau VietGAP chưa tới 1% tổng diện tích canh tác

Ngày 9/6, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) “Quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm”.

Theo PGS. TS. Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, rau là nhóm thực phẩm thiết yếu, yêu cầu của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm với mặt hàng này ngày càng cao. Những năm qua, ngành nông nghiệp đã ban hành nhiều tiêu chuẩn và quy trình sản xuất như VietGAP, GlobalG.A.P nhằm nâng cao chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Tuy nhiên, việc mở rộng các mô hình sản xuất đạt chứng nhận vẫn gặp nhiều trở ngại. Năm 2025, cả nước có khoảng 1,15 triệu ha rau các loại, nhưng diện tích được chứng nhận VietGAP mới đạt hơn 8.000ha, chiếm 0,5 - 0,6%. Nguyên nhân chủ yếu là phần lớn diện tích trồng rau hiện nay vẫn do các hộ nông dân quy mô nhỏ đảm nhiệm. Trong khi đó, các yêu cầu về ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý hồ sơ, đánh giá, giám sát và duy trì chứng nhận đòi hỏi chi phí và năng lực quản trị nhất định, trở thành rào cản đối với nhiều hộ sản xuất và hợp tác xã.

Trước thực tế đó, Viện Nghiên cứu Rau quả đã đề xuất xây dựng TCVN về quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm theo hướng đơn giản, thực chất và dễ áp dụng hơn. Để hoàn thiện dự thảo, nhóm soạn thảo đã khảo sát nhiều vùng trồng rau trên cả nước; tham vấn chuyên gia, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và người tiêu dùng.

ThS. Nguyễn Xuân Điệp, đại diện Ban soạn thảo, cho biết dự thảo tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời tham khảo có chọn lọc các bộ tiêu chuẩn trong nước và quốc tế như VietGAP, ASEAN GAP, GlobalG.A.P., TCVN ISO 22000:2018 cùng các quy định về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Dự thảo hướng tới xây dựng căn cứ kỹ thuật thống nhất phục vụ công tác quản lý, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc; giảm chi phí và gánh nặng tuân thủ cho cơ sở sản xuất; đồng thời cung cấp các quy trình, biểu mẫu đơn giản để nông hộ thuận lợi áp dụng, từng bước nâng cao chất lượng sản xuất.

Làm rõ phạm vi áp dụng

Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng, việc xây dựng và ban hành TCVN về quy trình sản xuất, sơ chế rau an toàn là cần thiết trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng nông sản, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững ngày càng cao.

Theo Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quý Dương, cần tiếp tục làm rõ phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn, đặc biệt là việc TCVN sẽ được sử dụng cho mục đích chứng nhận hay chỉ đóng vai trò hướng dẫn thực hành. Theo ông, đây là yếu tố quan trọng quyết định phương thức triển khai và mức độ áp dụng trong thực tiễn.

Góp ý nội dung dự thảo, Trưởng phòng Tiêu chuẩn nông nghiệp thực phẩm, Viện Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ) Lê Thành Hưng nhận định, đây là bộ tiêu chuẩn có tính đặc thù khi đối tượng áp dụng chủ yếu là các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ. Vì vậy, quá trình xây dựng cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu kỹ thuật và tính đơn giản, dễ hiểu, tránh trùng lặp với các quy trình kỹ thuật đã được ban hành trước đó.

Theo ông Hưng, tên gọi và cấu trúc của tiêu chuẩn cũng cần được rà soát để thể hiện rõ bản chất là một quy phạm thực hành tương tự các bộ tiêu chuẩn GAP (thực hành nông nghiệp tốt), tập trung vào các điểm kiểm soát nguy cơ mất an toàn thực phẩm. Hệ thống thuật ngữ, định nghĩa và phạm vi đối tượng áp dụng cũng cần được hoàn thiện nhằm bảo đảm tính bao quát.

Từ góc độ đơn vị trực tiếp sản xuất và tiêu thụ rau, Giám đốc HTX Sản xuất, Kinh doanh, Dịch vụ Nông nghiệp Văn Đức Nguyễn Văn Minh đánh giá dự thảo được xây dựng tương đối sát thực tiễn, nội dung rõ ràng và dễ tiếp cận. Tuy nhiên, để nâng cao khả năng áp dụng, ông đề xuất bổ sung các phụ lục và biểu mẫu ghi chép đơn giản, đồng thời khuyến khích sử dụng nhật ký điện tử và mã QR truy xuất nguồn gốc.

Về mặt kỹ thuật, nhiều ý kiến đề nghị quản lý đất và nguồn nước theo hướng đánh giá nguy cơ thay vì yêu cầu xét nghiệm định kỳ trên diện rộng nhằm giảm chi phí cho người sản xuất. Đối với thuốc bảo vệ thực vật, cần tăng cường khuyến khích áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng chế phẩm sinh học và quy định rõ việc thu gom, xử lý bao gói sau sử dụng. Bên cạnh đó, hồ sơ ghi chép chỉ nên yêu cầu những thông tin tối thiểu nhưng vẫn bảo đảm khả năng kiểm soát và truy xuất.

Liên quan đến truy xuất nguồn gốc, Phó Giám đốc HTX Tân Minh Đức (TP. Hải Phòng) Hoàng Anh Thư cho rằng đây là yêu cầu ngày càng khắt khe của cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Do đó, tiêu chuẩn cần khuyến khích các cơ sở sản xuất xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử gắn với mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất và mã QR sản phẩm.

Các đại biểu cũng cho rằng, sau khi tiêu chuẩn được ban hành, cần sớm xây dựng sổ tay hướng dẫn, tài liệu kỹ thuật và tổ chức tập huấn cho hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ sản xuất nhằm bảo đảm khả năng triển khai đồng bộ, hiệu quả trên thực tế.

Lam Ngọc