Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nghiên cứu khoa học cơ bản: Mở ra cách tiếp cận mới đối với khoa học cơ bản
Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nghiên cứu khoa học cơ bản là một dấu mốc quan trọng trong tư duy phát triển, khi khoa học cơ bản được đặt ở vị trí của một nền tảng chiến lược quốc gia. Nhấn mạnh điều này, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) cho rằng, đây không chỉ là yêu cầu đổi mới nhận thức, mà còn là tuyên bố về khát vọng tự chủ công nghệ và phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai quốc gia
- Tại buổi làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ nhận thức về nghiên cứu khoa học cơ bản theo hướng đây không phải hoạt động học thuật thuần túy mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ XXI. Thông điệp này có ý nghĩa như thế nào đối với chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới, thưa đại biểu?

- Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa rất quan trọng vì đã đặt lại vị trí của khoa học cơ bản trong tư duy chiến lược quốc gia, không phải là hoạt động học thuật, mà là nền móng không thể thiếu của một quốc gia muốn phát triển có chiều sâu và bền vững.
Nhìn lại lịch sử phát triển của các cường quốc khoa học, không có nền công nghệ nào lớn mạnh mà không bắt rễ từ nghiên cứu cơ bản. Giá trị của nghiên cứu khoa học cơ bản không thể đo đếm trong ngắn hạn, nhưng hệ quả của việc bỏ qua thì rất rõ ràng, đó là sự lệ thuộc công nghệ dài hạn.
Với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, thông điệp này có ba lớp ý nghĩa.
Thứ nhất, đây là tuyên bố về tự chủ chiến lược: một quốc gia không có nền khoa học cơ bản vững chắc sẽ mãi đi mua công nghệ, mà đã đi mua thì không bao giờ mua được công nghệ lõi.
Thứ hai, đây là sự định vị lại ưu tiên đầu tư công: ngân sách cho khoa học cơ bản không phải chi phí vận hành mà là đầu tư tích lũy, cần được tính toán theo logic của đầu tư dài hạn, không phải theo logic của chi tiêu ngân sách hàng năm.
Thứ ba, tôi cho rằng, thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước còn có ý nghĩa văn hóa, đặt nền tảng để xã hội và hệ thống quản lý thay đổi cách nhìn nhận về giá trị của nhà nghiên cứu, của công trình khoa học, của tư duy phân tích và sáng tạo. Đổi mới nhận thức phải được thể hiện qua cách chúng ta phân bổ ngân sách, thiết kế thể chế, và ứng xử với người làm khoa học.
- Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đưa ra nhiều chỉ đạo cụ thể về đổi mới thể chế quản trị, cơ chế quản lý đối với nghiên cứu cơ bản. Đại biểu có suy nghĩ như thế nào về những chỉ đạo cụ thể này?
- Những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại buổi làm việc đặt ra yêu cầu rất cụ thể: chúng ta phải xây dựng được một khung pháp lý cho phép khoa học vận hành theo đúng logic của khoa học, chứ không phải theo logic của hành chính công.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải thiếu luật, mà là khoảng cách giữa luật và thực tiễn. Luật Khoa học, Công nghệ mới và Đổi mới sáng tạo đã ghi nhận nhiều cơ chế tiến bộ, từ khoán chi, nghiệm thu linh hoạt đến sandbox cho đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, Nghị định và Thông tư hướng dẫn chưa theo kịp tinh thần của Luật. Năng lực thực thi tại các viện, trường chưa sẵn sàng vận hành theo cơ chế mới. Văn hóa quản lý vẫn nghiêng về kiểm soát hơn kiến tạo, cán bộ quản lý quen với tư duy "không sai" hơn là tư duy "tạo điều kiện". Hệ quả là, các nhà nghiên cứu vẫn dành một phần không nhỏ năng lực cho thủ tục thay vì cho khoa học, và người có tư duy đột phá vẫn chọn đề tài an toàn để tránh rủi ro thanh kiểm tra.
Cần luật hóa cơ chế phân chia lợi ích từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu công
- Thực tế nêu trên đặt ra những yêu cầu nào đối với công tác hoàn thiện thể chế, xây dựng pháp luật nhằm giải phóng sức sáng tạo cho đội ngũ trí thức, nhà nghiên cứu, thưa đại biểu?
- Thứ nhất, phải bảo đảm thực thi thực chất những gì Luật đã quy định. Quốc hội cần tăng cường giám sát chuyên đề về thực thi Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, đặc biệt tập trung vào tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn và mức độ áp dụng thực tế các cơ chế mới tại cơ sở. Song song với đó, cần có chương trình bồi dưỡng năng lực bắt buộc cho đội ngũ quản lý khoa học, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, để nhà nghiên cứu thực sự được hưởng lợi từ những cải cách mà Luật đã mở ra.
Thứ hai, vận hành thực chất cơ chế Quỹ khoa học độc lập. Cần xây dựng và vận hành quỹ khoa học quốc gia theo nguyên tắc bình duyệt độc lập, với hội đồng chuyên môn có thực quyền và tách bạch khỏi cơ quan quản lý nhà nước.
Kinh nghiệm của Israel với Quỹ Khoa học Quốc gia hay của Hàn Quốc với cơ chế "blue sky research" cho thấy, đây là công cụ hiệu quả để tài trợ cho nghiên cứu có rủi ro cao nhưng tiềm năng đột phá lớn, loại nghiên cứu mà cơ chế phân bổ hành chính sẽ không bao giờ chọn. Khi đó, nguồn lực đến tay nhà khoa học giỏi thực sự, thay vì nhà khoa học quen làm hồ sơ.
Thứ ba, trao quyền tự chủ thực sự cho đại học nghiên cứu. Các trường đại học vẫn bị ràng buộc bởi khung công chức trong tuyển dụng, bởi cơ chế ngân sách cứng trong tài chính, và bởi quy trình phê duyệt nặng nề trong định hướng nghiên cứu. Hệ quả là trường không giữ được người tài và không dám đầu tư dài hạn vào hướng nghiên cứu mạo hiểm. Thực tế này đòi hỏi phải hoàn thiện khung pháp lý để các đại học nghiên cứu trọng điểm được tự chủ toàn diện, về nhân sự, tài chính và chương trình nghiên cứu, theo mô hình mà Phần Lan và Singapore đã áp dụng thành công, thúc đẩy hình thành được một số cực nghiên cứu mạnh, có khả năng cạnh tranh và hợp tác quốc tế thực chất.

Thứ tư, phát huy hiệu quả Quỹ khoa học và công nghệ doanh nghiệp. Cần hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế gắn với đầu tư thực chất vào nghiên cứu cơ bản và đổi mới sáng tạo; đồng thời xây dựng nền tảng kết nối minh bạch để doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu và đồng tài trợ với nhà nước.
Kinh nghiệm của Đài Loan và Hàn Quốc cho thấy, khi doanh nghiệp tư nhân tham gia tài trợ nghiên cứu cơ bản có định hướng, tốc độ chuyển hóa từ tri thức sang ứng dụng tăng lên đáng kể, đồng thời giảm gánh nặng ngân sách nhà nước nhằm hình thành vòng tuần hoàn khép kín giữa nghiên cứu — doanh nghiệp — thị trường.
Thứ năm, xây dựng cơ chế liên kết trường - viện - doanh nghiệp thực chất, gắn với giải quyết điểm nghẽn chuyển giao công nghệ. Đây là điểm nghẽn mãn tính và cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Theo đó, một là, cần luật hóa cơ chế phân chia lợi ích từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu công theo hướng nhà nghiên cứu được hưởng tỷ lệ đủ lớn để có động lực thực sự. Hai là, hỗ trợ hình thành mạng lưới Technology Transfer Office chuyên nghiệp tại các đại học và viện nghiên cứu trọng điểm. Ba là, đặt lại điều kiện trong chính sách thu hút vốn đầu tư FDI, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế đơn thuần, chuyển sang mô hình đàm phán có điều kiện về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực kỹ thuật cao và hợp tác nghiên cứu với đối tác trong nước.
Điều này nhằm từng bước đóng khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, để tri thức được tạo ra trong nước không bị lãng phí, và để Việt Nam thực sự hấp thụ được công nghệ từ dòng vốn FDI thay vì chỉ cung cấp lao động cho chuỗi giá trị của người khác.
Ba cam kết cần có để xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu có chiều sâu
- Theo đại biểu, yếu tố nào cần quan tâm trước tiên để xây dựng được một hệ sinh thái nghiên cứu nhân văn, có chiều sâu như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm?
- Tôi cho rằng, để xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu nhân văn và có chiều sâu phải bắt đầu từ con người, và không phải từ một tầng duy nhất, mà từ toàn bộ chuỗi người tạo nên hệ sinh thái đó.
Hệ sinh thái nghiên cứu không thể xây bằng cách tuyển một số nhà khoa học giỏi rồi cấp kinh phí. Nó cần một chuỗi liên tục và có kết nối: học sinh được nuôi dưỡng tư duy tò mò và năng lực phân tích từ sớm; sinh viên đại học được tiếp cận thực sự với nghiên cứu thay vì chỉ học lý thuyết; nghiên cứu sinh và nhà khoa học trẻ có môi trường để thất bại, thử lại và trưởng thành; nhà khoa học kỳ cựu có điều kiện dẫn dắt thế hệ sau thay vì bị cuốn vào gánh nặng hành chính; và những người làm chính sách khoa học phải hiểu đủ sâu về khoa học để không vô tình bóp chết sáng tạo bằng quy trình.
Do đó, vấn đề hệ sinh thái nghiên cứu không thể tách rời vấn đề giáo dục. Nếu chương trình phổ thông tiếp tục đào tạo học sinh theo hướng tối ưu hóa điểm thi hơn là nuôi dưỡng tư duy đặt câu hỏi, thì đầu vào của hệ sinh thái nghiên cứu sẽ mãi thiếu hụt. Nếu đại học không được trao quyền tự chủ thực sự trong nghiên cứu, thì tầng trung của chuỗi sẽ mãi yếu. Và nếu nhà nghiên cứu giỏi không được đãi ngộ xứng đáng - về thu nhập, về địa vị xã hội, về tự do học thuật, thì tầng lõi của hệ sinh thái sẽ tiếp tục chảy máu ra nước ngoài.
Tôi muốn nhấn thêm một điểm thường bị bỏ qua: hệ sinh thái nghiên cứu có chiều sâu cần có tích lũy tri thức liên thế hệ. Đó không chỉ là chuyện đào tạo từng cá nhân giỏi, mà là xây dựng được các trường phái nghiên cứu - nơi tri thức, phương pháp và văn hóa khoa học được truyền từ thầy sang trò, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này đòi hỏi sự ổn định: ổn định trong tài trợ, ổn định trong định hướng, và ổn định trong cam kết của nhà nước với khoa học dài hạn. Không có trường phái nghiên cứu nào hình thành được trong môi trường mà chính sách thay đổi theo nhiệm kỳ và ngân sách khoa học biến động theo năm tài chính.
Xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu nhân văn và có chiều sâu, theo tôi, đòi hỏi ba cam kết đồng thời: cam kết đầu tư dài hạn vào con người ở từng tầng của chuỗi, từ học sinh phổ thông đến nhà khoa học kỳ cựu; cam kết thể chế để bảo vệ tự do tư duy và học thuật; và cam kết văn hóa để xã hội thực sự tôn trọng và trân trọng người làm khoa học. Ba điều này không thể làm tuần tự, phải làm cùng lúc, bởi chúng củng cố lẫn nhau. Và đó là lý do mà chủ trương đổi mới nhận thức mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh lại quan trọng đến vậy, nhận thức phải đổi mới ở cả hệ thống, không chỉ ở một tầng lãnh đạo.
- Xin cảm ơn đại biểu!