Bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại
Bộ Tư pháp đang thẩm định hồ sơ dự án luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Dự thảo luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới đảm bảo tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường, quyền, lợi ích của người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.
Vướng mắc trong thực hiện bồi thường nhà nước
Sau 8 năm triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cho thấy hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết yêu cầu bồi thường và xem xét trách nhiệm hoàn trả đã được thực hiện bài bản, đồng bộ và hiệu quả. Kết quả tổ chức thi hành luật đã khẳng định trách nhiệm của Nhà nước với Nhân dân, giúp củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Tuy vậy, quá trình triển khai thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Hiện nay, Quy định số 231-QĐ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã quy định người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có quyền “Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc áp dụng không kịp thời gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tinh thần của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân”. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 lại chưa quy định việc bồi thường đối với những trường hợp này. Chính khoảng trống pháp lý này gây khó khăn, lúng túng trong việc thực hiện bồi thường cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi có thiệt hại xảy ra.
Ngoài ra, một số trường hợp có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có thiệt hại xảy ra nhưng không thuộc những trường hợp liệt kê từ Điều 17 đến Điều 21 thì không được bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Ví dụ: trường hợp “hủy bỏ” giấy phép hoặc các giấy tờ có giá trị tương tự như giấy phép trái pháp luật; trường hợp “không cấp” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật, trong khi hành vi cấp, thu hồi,… trái pháp luật được xem xét bồi thường.
Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường hiện còn một số vướng mắc, bất cập. Theo đó, quy định về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, còn quy định nhiều loại giấy tờ, tài liệu. Đơn cử, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đang quy định hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm 4 loại văn bản, tài liệu gồm: văn bản yêu cầu bồi thường; văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại; tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có). Trong khi hiện nay, một số thông tin về chứng minh nhân thân có thể sử dụng từ các hệ thống thông tin, dữ liệu đã được xây dựng, kết nối trên môi trường số như: giấy tờ chứng minh nhân thân, một số văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường (như bản án, quyết định của tòa án…) mà không cần yêu cầu người yêu cầu bồi thường cung cấp.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 46 và Điều 47 về thương lượng việc bồi thường và quyết định giải quyết bồi thường theo Luật hiện hành chưa tạo cơ chế thuận lợi cho người yêu cầu bồi thường trong trường hợp một vụ việc có cả những nội dung thương lượng “thành” và những nội dung thương lượng “không thành”, dẫn đến chưa bảo đảm tối đa quyền lợi cho người yêu cầu bồi thường. Việc quy định chỉ có nội dung thương lượng thành mới ban hành quyết định giải quyết bồi thường, còn nội dung thương lượng không thành thì không ban hành quyết định giải quyết bồi thường dẫn đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường chưa chấm dứt nhưng lại phát sinh quyền yêu cầu khởi kiện tại tòa án.
Bổ sung một số trường hợp được Nhà nước bồi thường
Để bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, ngoài việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường, dự thảo Luật đã mở rộng, bổ sung một số trường hợp được Nhà nước bồi thường.
Theo đó, dự thảo Luật bổ sung một số trường hợp dẫn đến phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cụ thể, dự thảo Luật bổ sung trường hợp “hủy bỏ” giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép là một trong các trường hợp Nhà nước bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính bởi thực tế bản chất của việc “thu hồi” và “hủy bỏ” là đều dẫn đến hậu quả dừng, chấm dứt hoạt động của các chủ thể được cấp giấy phép và có thể gây phát sinh thiệt hại. Cùng với đó, dự thảo Luật cũng bổ sung trường hợp “không cấp” giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trái pháp luật thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính.
Ngoài ra, để thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW, dự thảo Luật đã bổ sung quy định trường hợp “Không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ thông tin, bí mật cá nhân, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, việc làm, quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật của người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân” thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và bồi thường Nhà nước, Bộ Tư pháp Lê Vệ Quốc cho biết, dự thảo Luật tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đối tượng được bồi thường; phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung quy định “trường hợp khác do luật quy định” nhằm bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tiễn.
Có thể thấy, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định quan trọng. Qua đó, sẽ bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm công vụ và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước.