Thu hẹp khoảng cách số để thúc đẩy thương mại điện tử
Quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam đã vượt 38 tỷ USD, song sự phát triển vẫn chưa đồng đều giữa các vùng, miền; khoảng cách số giữa các địa phương thể hiện rõ ở hạ tầng, nhân lực, mức độ tham gia thương mại điện tử và hầu như không thay đổi trong suốt 5 năm qua.

Tăng trưởng nhanh nhưng chưa đồng đều
Theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), năm 2025, quy mô thị trường thương mại điện tử nước ta ước đạt 38,5 tỷ USD, tăng 21% so với năm trước. Sau một thập niên duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình trên 25%/năm, thương mại điện tử đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế số.
Hoạt động kinh doanh trên các nền tảng trực tuyến tiếp tục bùng nổ. Năm 2025, tổng doanh số trên bốn sàn bán lẻ lớn gồm Shopee, TikTok Shop, Lazada và Tiki đạt từ 430.000 - 458.000 tỷ đồng, tăng từ 26 - 35% so với năm 2024. Sản lượng bưu gửi phục vụ thương mại điện tử đạt 4,2 tỷ đơn hàng, tăng 27%.
Thương mại điện tử xuyên biên giới cũng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi kim ngạch xuất nhập khẩu trực tuyến B2C đạt khoảng 4,5 tỷ USD. Trên Amazon, số lượng doanh nghiệp Việt đạt doanh thu trên 1 triệu USD/năm tăng 60%, trong khi doanh thu từ các sản phẩm thương hiệu Việt tăng 40%.
Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh không đồng nghĩa với phát triển đồng đều. Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam (EBI) 2026 của VECOM cho thấy, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu với điểm số lần lượt 87,5 và 91,1, bỏ xa các địa phương còn lại. Trong khi đó, nhiều tỉnh miền núi và vùng khó khăn chỉ đạt từ 4 - 6 điểm. Đáng chú ý, bức tranh này gần như không thay đổi trong suốt 5 năm qua.
Khoảng cách số thể hiện rõ ở hạ tầng, nguồn nhân lực và mức độ tham gia thương mại điện tử. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chỉ chiếm khoảng 22% dân số nhưng sở hữu hơn 63% tên miền quốc gia ".vn" và khoảng 80% số website bán hàng đã đăng ký với Bộ Công Thương. Trên Shopee, hai địa phương này chiếm 64% số gian hàng nhưng tạo ra tới 79% doanh số.
Nguồn nhân lực cũng là điểm nghẽn đáng chú ý khi phần lớn cơ sở đào tạo chuyên ngành thương mại điện tử tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Sau khi tốt nghiệp, đa số sinh viên tiếp tục ở lại làm việc tại hai trung tâm này, khiến nhiều địa phương thiếu hụt nhân lực phục vụ chuyển đổi số.
Theo VECOM, mục tiêu cân bằng tỷ trọng giao dịch thương mại điện tử giữa hai thành phố lớn với phần còn lại của cả nước ở mức 50 - 50 vào năm 2025 đã không đạt được. Tỷ lệ thực tế vẫn ở khoảng 70 - 30, cho thấy khoảng cách số đang trực tiếp tạo ra khoảng cách phát triển thương mại điện tử giữa các vùng miền.
Không chỉ là vấn đề hạ tầng
Theo các tổ chức quốc tế, khoảng cách số là sự chênh lệch về khả năng tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ số giữa các cá nhân, cộng đồng và khu vực.
Liên Hợp Quốc xác định khoảng cách số không chỉ là việc có hay không có Internet, mà còn liên quan tới kỹ năng số, khả năng sử dụng công nghệ và cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội trong môi trường số.
Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh rằng công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm các yếu tố bổ trợ như giáo dục, thể chế và môi trường kinh doanh thuận lợi. Một người có kết nối Internet nhưng thiếu kỹ năng vẫn rất khó tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số.
Tương tự, Liên minh Viễn thông Quốc tế chỉ ra một thực tế đáng chú ý là nhiều khu vực đã có hạ tầng viễn thông nhưng người dân vẫn không sử dụng internet. Khoảng cách này được gọi là "usage gap" - khoảng cách giữa khả năng tiếp cận về mặt kỹ thuật và việc sử dụng thực tế.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, VECOM cho biết, nhiều quốc gia đã triển khai các chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách số, thúc đẩy phát triển kinh tế số bao trùm.
Tại Trung Quốc, chiến lược băng thông rộng “Broadband China” được triển khai từ 2013 nhằm mở rộng mạng băng rộng và nâng cao khả năng kết nối trên toàn quốc, đặc biệt ở các khu vực kém phát triển. Năm 2019, nước này tiếp tục ban hành chiến lược phát triển nông thôn số, tập trung đưa thương mại điện tử, logistics, thanh toán điện tử và nông nghiệp thông minh tới các vùng nông thôn. Không chỉ đầu tư hạ tầng, Trung Quốc còn huy động sự tham gia của các doanh nghiệp nền tảng lớn nhằm thúc đẩy kinh tế số ở nông thôn.
Hàn Quốc được xem là hình mẫu về xã hội số bao trùm. Năm 2020, nước này ban hành chiến lược “Digital New Deal”, tập trung đầu tư vào dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực số của lực lượng lao động. Năm 2025, Luật Bao trùm số được ban hành, không chỉ chú trọng tới phổ cập công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) mà nhấn mạnh tới năng lực số, cung cấp đào tạo kỹ năng số và hỗ trợ thiết bị cho các nhóm yếu thế như người cao tuổi, người thu nhập thấp và người khuyết tật.
Còn tại Thái Lan, dự án Internet băng thông rộng làng xóm (Net Pracharat) đã giúp đưa Internet đến cộng đồng nông thôn. Song song với đó là chương trình đào tạo kỹ năng số cho nông dân, người cao tuổi và các nhóm yếu thế.
Điểm chung trong kinh nghiệm của các quốc gia này là coi thu hẹp khoảng cách số như một chính sách phát triển xã hội, chứ không đơn thuần là một dự án công nghệ.
Việt Nam nên làm gì?
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển thương mại điện tử theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững. Theo Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, đến 2030, các địa phương ngoài Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chiếm 50% giá trị giao dịch thương mại điện tử B2C toàn quốc; 60% số xã có thương nhân tham gia bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ trực tuyến. Để hiện thực hóa mục tiêu này, VECOM đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, thu hẹp khoảng cách tiếp cận hạ tầng số. Đây là điều kiện tiên quyết để người dân và doanh nghiệp tham gia vào môi trường số. Theo đó, cần mở rộng đối tượng truy cập Internet qua cáp quang băng rộng và các công nghệ tiên tiến. Song song, có các giải pháp hỗ trợ khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, khu vực sóng yếu… tiếp cận Internet vệ tinh như Starlink với chi phí phù hợp.
Thứ hai, thu hẹp khoảng cách về kỹ năng sử dụng công nghệ số. Các chương trình đào tạo nên tập trung vào kỹ năng số cơ bản và nâng cao, đặc biệt hướng tới các nhóm yếu thế như nông dân, người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và cư dân vùng khó khăn. Việc nâng cao kỹ năng số sẽ giúp người dân khai thác hiệu quả hơn các dịch vụ trực tuyến, thúc đẩy mua sắm và thanh toán điện tử, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.
Thứ ba, thu hẹp khoảng cách về hiệu quả sử dụng công nghệ. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp người dân truy cập Internet hay mở gian hàng trực tuyến, mà còn phải tạo ra thu nhập, việc làm và cơ hội phát triển kinh tế thực chất. Điều này đòi hỏi quá trình triển khai liên tục và lâu dài.
“Cho tới nay ở Việt Nam hầu như chưa có các công trình nghiên cứu khoa học về thu hẹp khoảng cách số. Do đó, cần nhanh chóng triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học về khoảng cách số nói chung và khoảng cách trong thương mại điện tử nói riêng, đề xuất chính sách và giải pháp thu hẹp khoảng cách thương mại điện tử”, VECOM đề xuất.