Doanh nghiệp

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được đo bằng hiệu quả thực chất

Đan Thanh thực hiện 01/06/2026 07:27

Theo TS. MẠC QUỐC ANH, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp, dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) cho thấy sự chuyển hướng trong tư duy chính sách: từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, gắn với điều kiện và đo lường bằng kết quả đầu ra. Điều này sẽ giúp nguồn lực hỗ trợ đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả cao nhất.

Hỗ trợ có trọng tâm, đo lường bằng hiệu quả thực chất

- Dự thảo Luật theo hướng chuẩn hóa, nhận diện rõ các nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cần ưu tiên hỗ trợ, đơn giản hóa tiêu chí xác định (chỉ dựa vào lao động và doanh thu), và chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đóng đủ bảo hiểm xã hội (BHXH). Ông đánh giá thế nào về những điều chỉnh này?

- Theo tôi, đây là hướng sửa đổi rất đáng chú ý, thể hiện sự chuyển dịch trong tư duy chính sách: từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, có phân loại, có điều kiện và có mục tiêu phát triển rõ ràng hơn.

Dự thảo đã nhận diện các nhóm DNNVV cần ưu tiên như: doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp kinh doanh bền vững, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp do người khuyết tật làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật. Cách tiếp cận này phù hợp bởi không phải mọi DNNVV đều giống nhau về năng lực, nhu cầu, tiềm năng và mức độ dễ bị tổn thương.

a1.jpg
TS. Mạc Quốc Anh, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp

Dự thảo cũng xác định DNNVV theo hai tiêu chí chính là số lao động bình quân năm không quá 300 người và tổng doanh thu năm trước liền kề không quá 400 tỷ đồng. Tôi đánh giá cao việc đơn giản hóa tiêu chí xác định DNNVV như vậy. Việc sử dụng tiêu chí lao động và doanh thu giúp nhận diện nhanh hơn, minh bạch hơn, dễ số hóa hơn và phù hợp với định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp thống nhất. Tuy nhiên, khi áp dụng cần lưu ý đặc thù ngành nghề, bởi có doanh nghiệp công nghệ doanh thu cao nhưng lao động ít; có doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động nhưng biên lợi nhuận thấp.

Đặc biệt, quy định chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đóng đầy đủ BHXH là bước tiến nhằm xây dựng hệ sinh thái kinh doanh lành mạnh, dịch chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp "khó khăn" sang doanh nghiệp "xứng đáng". Dù vậy, để tránh gây khó cho các doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc mới chuyển đổi từ hộ kinh doanh vốn còn yếu về năng lực quản trị, chính sách nên được thiết kế phân tầng. Theo đó, hỗ trợ ngay cho đơn vị tuân thủ tốt, và đưa các đơn vị thiếu sót không cố ý vào nhóm “hỗ trợ chuyển đổi tuân thủ” có thời hạn khắc phục, giúp chính sách vừa nghiêm minh vừa nhân văn, thúc đẩy chuyển dần sang khu vực chính thức.

- Về nguyên tắc hỗ trợ, dự thảo quy định đẩy mạnh phân bổ ngân sách nhà nước hỗ trợ theo kết quả đầu ra và gắn trách nhiệm của đơn vị triển khai, ông nhận xét gì về điều này?

- Tôi cho rằng đây là một điểm tiến bộ nhất của dự thảo Luật. Hỗ trợ theo kết quả đầu ra sẽ làm thay đổi căn bản cách vận hành chính sách. Trước đây, có thể chỉ cần tổ chức xong một lớp đào tạo là coi như hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng với tư duy mới, phải trả lời được: sau đào tạo có bao nhiêu doanh nghiệp áp dụng được phần mềm kế toán? Bao nhiêu doanh nghiệp có hợp đồng thương mại mới?... Khi đó, chính sách hỗ trợ mới chuyển từ “hành chính hóa” sang “hiệu quả hóa”.

Việc gắn trách nhiệm của đơn vị triển khai cũng rất cần thiết. Theo tôi, nên xây dựng bộ chỉ số đánh giá độc lập, công khai trên nền tảng số và cho phép doanh nghiệp chấm điểm dịch vụ. Điều này tạo cơ chế sàng lọc công bằng: đơn vị làm tốt được tiếp tục giao nhiệm vụ, đơn vị hình thức sẽ bị thay thế, đúng với tinh thần Nhà nước kiến tạo - dùng nguồn lực công để kích hoạt nguồn lực xã hội, nhưng phải đo bằng hiệu quả thực chất.

Có tiêu chí rõ ràng về doanh nghiệp kinh doanh bền vững

- Dự thảo Luật bổ sung quy định về phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV. Theo ông, mấu chốt để phát triển hệ sinh thái này là gì?

- Việc bổ sung quy định về phát triển hệ sinh thái hỗ trợ DNNVV là rất cần thiết và hợp xu thế, giúp doanh nghiệp phát triển toàn diện thay vì nhận các gói hỗ trợ đơn lẻ. Để vận hành hiệu quả mạng lưới kết nối đa dạng từ thể chế, công nghệ đến các tổ chức hỗ trợ này, mấu chốt nằm ở ba yếu tố.

Thứ nhất, phải có một đầu mối điều phối đủ mạnh. Bởi hệ sinh thái không thể phát triển nếu mỗi bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, trung tâm hỗ trợ làm một kiểu. Cần một cổng hỗ trợ DNNVV thống nhất, tích hợp dữ liệu và chương trình hỗ trợ.

Thứ hai, cần coi hiệp hội doanh nghiệp là một chủ thể trung tâm vì họ hiểu rõ nhu cầu thực tế của hội viên. Nhà nước không nên làm thay thị trường, mà nên đặt hàng, giao nhiệm vụ và kiểm soát kết quả đối với các tổ chức có năng lực thực thi.

Thứ ba, phải phát triển thị trường dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhằm cung cấp chuyên gia, công cụ số và tư vấn pháp lý chất lượng; trong đó, cơ chế phiếu hỗ trợ sẽ là giải pháp bền vững giúp doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn dịch vụ, còn Nhà nước dễ dàng kiểm soát chất lượng và thanh toán theo kết quả đầu ra.

- Dự thảo Luật cũng bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV kinh doanh bền vững. Theo ông, các quy định này đã đủ sức khuyến khích doanh nghiệp?

- Dự thảo đưa ra nhiều công cụ quan trọng như ưu tiên tiếp cận tài chính, tín dụng, bảo lãnh tín dụng; hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn thực hiện dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn, áp dụng khung ESG; hỗ trợ tư vấn, đánh giá, chứng nhận, đo lường, xây dựng báo cáo năng lực đáp ứng tiêu chuẩn bền vững; hỗ trợ chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh... Những chính sách này là đúng hướng. Tuy nhiên, do rào cản lớn nhất của DNNVV khi xanh hóa là chi phí và năng lực thực thi, chính sách cần cụ thể hóa ba nội dung.

Thứ nhất, phải có tiêu chí rõ ràng về doanh nghiệp kinh doanh bền vững, dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn, mức độ đáp ứng ESG phù hợp với DNNVV. Không nên áp dụng bộ tiêu chuẩn quá phức tạp như doanh nghiệp lớn, vì DNNVV sẽ không đủ nguồn lực. Cần có “ESG phiên bản DNNVV” theo từng cấp độ: cơ bản, nâng cao, hội nhập quốc tế.

Thứ hai, hỗ trợ tài chính phải đi kèm hỗ trợ kỹ thuật. Nhiều doanh nghiệp không biết bắt đầu chuyển đổi xanh từ đâu. Vì vậy, trước khi vay vốn xanh, họ cần được đánh giá hiện trạng, xây dựng lộ trình, tính toán hiệu quả đầu tư, xác định công nghệ phù hợp và đo lường kết quả. Nhà nước có thể hỗ trợ chi phí kiểm toán năng lượng, kiểm kê phát thải, tư vấn sản xuất sạch hơn, chứng nhận tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và báo cáo bền vững.

Thứ ba, cần gắn kinh doanh bền vững với thị trường. Doanh nghiệp chỉ chủ động thay đổi khi thấy được hiệu quả kinh doanh; vì vậy, chính sách cần ưu tiên kết nối các DNNVV xanh với hoạt động mua sắm công xanh, các doanh nghiệp đầu chuỗi, hệ thống phân phối lớn, sàn thương mại điện tử, các chương trình xúc tiến xuất khẩu và các thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện