Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Gìn giữ mạch nguồn gắn bó lịch sử, định hình khuôn khổ hợp tác tương lai
Trong dòng chảy đối ngoại của Việt Nam hiện đại, quan hệ với Ấn Độ luôn mang một sắc thái đặc biệt: bền bỉ, tin cậy, giàu chiều sâu lịch sử và không ngừng được làm sâu sắc theo thời gian. Mối quan hệ ấy được bồi đắp từ nền tảng văn minh lâu đời, sự đồng cảm trong hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, lợi ích thiết thân trong hợp tác và tầm nhìn chiến lược về một khu vực hòa bình, ổn định, phát triển.
.jpg)
QUAN HỆ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ:
Gìn giữ mạch nguồn gắn bó lịch sử, định hình khuôn khổ hợp tác tương lai
Trong dòng chảy đối ngoại của Việt Nam hiện đại, quan hệ với Ấn Độ luôn mang một sắc thái đặc biệt: bền bỉ, tin cậy, giàu chiều sâu lịch sử và không ngừng được làm sâu sắc theo thời gian. Mối quan hệ ấy được bồi đắp từ nền tảng văn minh lâu đời, sự đồng cảm trong hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, lợi ích thiết thân trong hợp tác và tầm nhìn chiến lược về một khu vực hòa bình, ổn định, phát triển.
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 5 đến 7/5/2026 diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016 - 2026), đồng thời đánh dấu hơn nửa thế kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao, vì vậy không những là một hoạt động đối ngoại cấp cao quan trọng, mà còn là dấu mốc định hình khuôn khổ mới cho quan hệ song phương trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Sự gặp gỡ của hai nền văn minh trong mạch nguồn lịch sử
Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được hình thành từ rất sớm, từ những chuyến hải trình vượt gió mùa trên Biển Đông, nơi thương nhân, tu sĩ, học giả và nghệ nhân mang theo tư tưởng, tín ngưỡng và tri thức qua các tuyến giao thương cổ đại.
Các ghi chép lịch sử cho thấy, sự giao lưu và kinh tế và văn hóa sớm nhất giữa các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Ấn Độ và Việt Nam ngày nay có từ thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 17, ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đã hiện diện sâu sắc tại Đông Nam Á, trong đó có vùng đất Việt Nam ngày nay. Dấu ấn ấy còn lưu lại trong nền văn hóa Champa rực rỡ, trong những tháp gạch đỏ trầm mặc ở Mỹ Sơn, trong tượng thần Shiva, Vishnu, trong những đường nét điêu khắc vừa uy nghi vừa mềm mại, tồn tại qua hai ngàn năm như những chứng nhân lịch sử.
Triết lý Phật giáo từ Ấn Độ theo những bước chân tăng lữ, thương nhân và học giả đến với Việt Nam, hòa vào đời sống tinh thần dân tộc, trở thành một trong những dòng chảy văn hóa sâu đậm nhất, góp phần làm giàu thêm bản sắc Việt Nam.
Mối quan hệ bám rễ sâu từ cội nguồn lịch sử đó không phải sự áp đặt, mà là sự giao thoa, tiếp biến; không phải chinh phục, mà là lan tỏa. Chính điều đó khiến mối liên hệ Việt Nam - Ấn Độ từ thuở đầu đã mang tinh thần tôn trọng lẫn nhau giữa hai nền văn minh của châu Á.
Sự gặp gỡ của hai dân tộc cùng chung khát vọng độc lập
Bước sang thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam và Ấn Độ gặp gỡ trong một điểm chung lớn lao: khát vọng thoát khỏi ách thực dân, giành độc lập dân tộc và tự quyết vận mệnh quốc gia. Khi nhân dân Việt Nam bước vào các cuộc kháng chiến trường kỳ, tiếng nói ủng hộ từ Ấn Độ luôn vang lên mạnh mẽ. Nhân dân Ấn Độ, cũng trải qua thân phận thuộc địa, thấu hiểu sâu sắc giá trị của tự do và chủ quyền. Họ thậm chí còn đổ máu cho cuộc đấu tranh giành tự do của người dân Việt Nam: Sau chuyến thăm ngắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Calcutta năm 1946, người dân Calcutta đã chọn ngày 19/1/1947 là ngày Việt Nam, và vào ngày 21/1/1947, hàng ngàn sinh viên đã biểu tình trong một cuộc diễu hành lớn để phản đối cuộc đô hộ của thực dân Pháp.

Chính phủ Ấn Độ cũng có những hành động ý nghĩa thể hiện sự ủng hộ đối với Việt Nam. Đáng trân trọng trong số đó là chuyến thăm của Thủ tướng Jawaharlal Nehru tới Hà Nội vào năm 1954. Chỉ một tuần sau khi Hà Nội được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, ngày 17/10/1954, một phái đoàn cấp cao của Cộng hòa Ấn Độ, do Thủ tướng J Nehru dẫn đầu, đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Chính phủ Dân chủ Việt Nam đón tiếp một phái đoàn cấp cao do lãnh đạo nước ngoài dẫn đầu, lại là một phái đoàn cấp cao đến từ một quốc gia lớn ở châu Á, một trong những nền văn minh rực rỡ nhất của nhân loại thời trung cổ. Sự kiện đột phá này mang nhiều ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam và là một bước phát triển quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ. Hình ảnh vị lãnh đạo Ấn Độ đến với Việt Nam trong thời khắc lịch sử ấy là minh chứng cho sự ủng hộ chí tình của New Delhi đối với Chính quyền Hà Nội, là biểu hiện của tình hữu nghị chân thành, sự tôn trọng sâu sắc đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Cử chỉ ý nghĩa của Thủ tướng Ấn Độ cũng chính là bắt nguồn từ sự cảm phục và trân trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh – một người yêu mến đất nước và con người Ấn Độ trên cơ sở thấu hiểu, chia sẻ và cảm thông với số phận của những người dân đang chịu ách thống trị của ngoại quốc. Điều đó cũng được Hồ Chí Minh thể hiện qua mối quan tâm của ông đối với các nhà cách mạng Ấn Độ, trong đó có Jawaharlal Nehru. Vào năm 1942, khi hay tin nhà cách mạng J. Nehru bị giam cầm trong nhà tù thuộc địa của Anh, từ trong nhà tù Quảng Tây, nhà cách mạng Hồ Chí Minh đã viết một bài thơ bằng chữ Hán dành tặng J. Nehru, mang tựa đề “gửi Nehru”:
“Tôi phấn đấu thì ông hoạt động
Ông vào tù thì tôi ở lung
Muôn dặm xa xôi chưa gặp mặt
Thần giao cách cảm chốn không cùng
Cảnh ngộ chúng ta vốn tương đồng”.
Với bài thơ này, J. Nehru là nhà lãnh đạo cách mạng duy nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong Nhật ký trong tù. Điều này cho thấy sự gần gũi giữa hai dân tộc trong hoàn cảnh và mục tiêu tương tự.

Đáp lại chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ, vào năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức New Delhi và đích thân cả Tổng thống Rajendra Prasad và Thủ tướng Jawaharlal Nehru ra sân bay New Delhi đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nắm tay nhà lãnh đạo Ấn Độ, Người nói rằng “tất cả chúng ta đều là những người theo tư tưởng của Mahatma Gandhi, dù trực tiếp hay gián tiếp”. Tuyên bố này thể hiện sự trân trọng của nhà lãnh đạo Việt Nam đối với người cha của dân tộc Ấn Độ, cũng như cho thấy sự gặp gỡ của hai tư tưởng lớn về hòa bình, độc lập và đoàn kết Á - Phi. Hai lãnh tụ cách mạng dù không có cơ hội gặp nhau nhưng sự trân trọng, ngưỡng mộ mà họ dành cho nhau đã trở thành nguồn cảm hứng cho tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới.
Sự gặp gỡ của khát vọng chung đó đưa hai dân tộc kề vai sát cánh bên nhau qua những biến động của lịch sử, như Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam, ông Pranay Verma từng phát biểu trong cuộc phỏng vấn năm 2019: "Lịch sử chung về cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi ách thống trị thuộc địa và tầm nhìn lãnh đạo sáng suốt của các bậc tiền nhân vẫn là nền tảng vững chắc cho tình hữu nghị và sự quý mến lẫn nhau giữa hai nước và nhân dân, kể từ khi Ấn Độ và Việt Nam trở thành những quốc gia độc lập".
Nhìn lại, có thể thấy quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được xây trên niềm tin trước khi xây trên lợi ích, được nuôi dưỡng bằng tình cảm yêu quý mến phục trước khi được mở rộng bằng kinh tế - thương mại.

Từ thiết lập quan hệ ngoại giao đến Đối tác Chiến lược toàn diện
Ngày 7/1/1972, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn quyết liệt, Ấn Độ và Việt Nam tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.
Đặc biệt, ngay từ những năm đầu sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, Ấn Độ đã phản đối các hành động của Mỹ trong cuộc chiến và lên tiếng ủng hộ sự thống nhất dân chủ của đất nước Việt Nam. Sau đó, Ấn Độ cũng là một trong số ít các quốc gia không thuộc khối xã hội chủ nghĩa đứng về phía Việt Nam trong Chiến tranh biên giới Tây – Nam và Chiến tranh biên giới phía Bắc. Những bước đi đó đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía Việt Nam.
Năm 1975, khi Việt Nam vừa thống nhất, Ấn Độ dành cho Việt Nam ưu đãi thương mại khi trao cho nước ta quy chế Tối huệ quốc, mở đường cho việc ký kết hiệp định thương mại vào năm năm 1978. Năm 1982, Ủy ban Hợp tác Khoa học - Kỹ thuật và Kinh tế hỗn hợp được thành lập; ủy ban này vẫn hoạt động cho đến ngày nay do hai Bộ trưởng Ngoại giao đứng đầu.
Sau công cuộc đổi mới của Việt Nam và chính sách “Hướng Đông” (Look East) của Ấn Độ, quan hệ song phương bước vào giai đoạn tăng tốc. Việt Nam trở thành một đối tác then chốt của Ấn Độ tại Đông Nam Á, trong khi Ấn Độ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Hai nước ký “Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ XXI" vào tháng 5/2003; thiết lập quan hệ lên “Đối tác chiến lược” vào tháng 7/2007, và vào tháng 9/2016, tiếp tục nâng cấp thành “Đối tác chiến lược toàn diện” - mức hợp tác cao nhất trong cấu trúc quan hệ song phương của Việt Nam. Vào thời điểm đó, Ấn Độ là một trong bốn quốc gia mà Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Và một trong những chất xúc tác của bước nâng cấp quan trọng này là việc Thủ tướng Narendra Modi thúc đẩy Chính sách Hành động Hướng đông, nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường các kết nối về kinh tế với thị trường Đông Nam Á cũng như nâng cao vai trò và vị thế của Ấn Độ tại khu vực, trong đó, Việt Nam đóng vai trò quan trọng. Phát biểu trước Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hàng Châu, Trung Quốc ngày 3/9/2016 Thủ tướng Ấn Độ N. Modi nhấn mạnh: “Việt Nam là trụ cột mạnh mẽ trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ” và “quan hệ song phương giữa hai nước dựa trên sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và hội tụ những quan điểm về các vấn đề khác nhau trong khu vực và toàn cầu”.

Bước nâng cấp này là sự xác nhận rằng hai nước có sự tin cậy chính trị cao, lợi ích chiến lược đan xen và tầm nhìn tương đồng về khu vực. Kể từ đó, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu. Quan hệ kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân hai nước được mở rộng; các cơ chế hợp tác đối thoại, tiểu ban hợp tác chuyên ngành... luôn được phát huy hiệu quả.
10 năm Đối tác Chiến lược toàn diện: Mối quan hệ mạnh mẽ, đa chiều
Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam và Ấn Độ kỷ niệm 10 năm nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện, đánh dấu chặng đường một thập kỷ quan hệ hai nước phát triển thành một mối quan hệ mạnh mẽ và đa chiều, được củng cố bởi lòng tin chính trị vững chắc, sự hợp tác kinh tế ngày càng mở rộng, hợp tác quốc phòng sâu rộng và mối quan hệ giao lưu nhân dân sôi động.
Hai nước thường xuyên duy trì các chuyến thăm cấp cao và cao nhất, tạo sự ổn định và vững vàng về sự tin cậy chính trị. Điều này đã giúp hai nước luôn duy trì đường hướng hợp tác nhất quán, không bị chi phối bởi những dao động ngắn hạn, bất chấp tình hình quốc tế biến động.
Trong thời kỳ đại dịch Covid-19, các mối liên hệ không bị gián đoạn mà chuyển sang hình thức trực tuyến. Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến ngày 21/12/2020 là một sự kiện mang tính bước ngoặt; khi đó, Thủ tướng hai nước đã đưa ra tuyên bố toàn diện “Tầm nhìn chung về thế giới, sự thịnh vượng và nhân dân”, đã đặt nền tảng cho hợp tác dựa trên ba trụ cột gồm hòa bình, thịnh vượng và con người.

Quốc phòng - an ninh là một trong những lĩnh vực hợp tác nổi bật nhất giữa hai nước sau khi nâng cấp quan hệ. Ấn Độ là đối tác quan trọng hỗ trợ Việt Nam trong đào tạo nhân lực quân sự, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và an ninh biển. Hai bên thường xuyên tổ chức đối thoại quốc phòng, trao đổi đoàn quân sự cấp cao, hợp tác huấn luyện, gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc và nâng cao năng lực hàng hải.
Về thương mại, kim ngạch thương mại song phương giữa hai nước tăng nhanh, từ mức 5,43 tỷ USD năm 2016 lên mức 16,46 tỷ USD năm 2025, đưa Ấn Độ trở thành đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam. Đầu tư hai chiều cũng tăng trưởng tích cực. Tính đến tháng 3/2026, Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,117 tỷ USD, đứng thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 30 dự án với tổng số vốn gần 150,5 triệu USD, đứng thứ 17/88 địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam (tính đến tháng 3/2026). Nổi bật là dự án của Tập đoàn Vingroup xây dựng nhà máy sản xuất xe điện tại bang Tamil Nadu và dự kiến nâng tổng mức đầu tư tại Ấn Độ lên 6,5 tỷ USD.
Hợp tác giáo dục - đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực. Ấn Độ cấp cho Việt Nam 150 suất học bổng theo Chương trình Hợp tác kỹ thuật và kinh tế Ấn Độ (ITEC), 30 suất học bổng thuộc Chương trình CEP/GCSS, 2-4 suất/năm đào tạo tiếng Hindi và Văn hóa Ấn Độ, thành lập Trung tâm đào tạo nguồn lực chất lượng cao về công nghệ thông tin và truyền thông tại Hà Nội, Trung tâm tiếng Anh tại Đại học Đà Nẵng.
Ngoài ra, một trong những thành tựu dễ thấy nhất là sự mở rộng mạnh mẽ của kết nối hàng không. Từ những đường bay thẳng rất hạn chế cách đây một thập kỷ, ngày nay đã có hơn 70 chuyến bay thẳng mỗi tuần kết nối các thành phố lớn của Ấn Độ với Việt Nam, đưa Ấn Độ trở thành một trong những thị trường du lịch phát triển nhanh nhất của Việt Nam.

Sự gặp gỡ của Tầm nhìn Việt Nam 2045 và Viksit Bharat 2047: Không gian hợp tác cho kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh thế giới và bản thân mỗi nước đang tái cấu trúc sâu sắc, và mối hợp tác song phương vừa chạm mốc kỷ niệm 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa đặc biệt.
Như Giáo sư Anmol Mukhia thuộc Đại học Nam Á nhấn mạnh các chuyến thăm cấp cao chính là “xương sống” của sự tin cậy chính trị, giúp củng cố tin cậy chính trị ở mức cao nhất.
Đặc biệt, bước vào kỷ nguyên mới, mỗi quốc gia đều đang đặt ra mục tiêu tham vọng cho riêng mình: Việt Nam hướng tới Tầm nhìn 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước (1945–2045); còn Ấn Độ với Tầm nhìn Viksit Bharat 2047, đặt mục tiêu đưa Ấn Độ thành quốc gia phát triển vào năm 2047. Sự gặp gỡ của hai mục tiêu thiên niên kỷ đó sẽ mở ra không gian hợp tác cho hai quốc gia.
Với ý nghĩa đó, chuyến thăm là dịp để hai nước rà soát 10 năm triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện, chỉ ra những điểm nghẽn, những dư địa hợp tác còn có thể khai thác mạnh mẽ hơn nữa, từ đó, định hình khuôn khổ hợp tác mới cho quan hệ song phương trong giai đoạn tiếp theo. Chẳng hạn, các chuyên gia đều nhận định dù quan hệ đang phát triển tích cực, kim ngạch thương mại song phương hiện ở mức khoảng 16,5 tỷ USD vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Họ cho rằng, hai nước cần đặt ra một chiều cao “tham vọng” mới trong hợp tác, hướng tới mục tiêu 25 - 30 tỷ USD thông qua việc làm sâu sắc hơn hợp tác trong các lĩnh vực “của tương lai”. Đây là “chiều kích” mới của quan hệ song phương, nếu xét Ấn Độ là cường quốc công nghệ mới nổi, có thế mạnh về phần mềm, dữ liệu, vũ trụ, y sinh, tài chính số và hệ sinh thái khởi nghiệp. Còn Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số và phát triển doanh nghiệp công nghệ. Sự kết hợp giữa nguồn nhân lực trẻ, thị trường năng động của Việt Nam với năng lực công nghệ và kinh nghiệm đổi mới sáng tạo của Ấn Độ có thể tạo ra bước nhảy vọt.
Trong bối cảnh châu Á đang vươn lên thành trung tâm tăng trưởng của thế giới, Việt Nam và Ấn Độ có đủ điều kiện để đưa quan hệ song phương trở thành một hình mẫu hợp tác Nam - Nam hiện đại, dựa trên tôn trọng lẫn nhau, bổ sung lợi thế cho nhau và cùng hướng tới phát triển bền vững.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vì thế chính là điểm khởi đầu cho một chương mới - nơi tình hữu nghị lịch sử được chuyển hóa thành sức mạnh phát triển của tương lai.
Quỳnh Vũ