Chú trọng quản lý đầu tư công bằng kết quả cuối cùng
Thảo luận tại Tổ về tình hình KT-XH, NSNN và các kế hoạch hạn, nhiều đại biểu cho rằng, nếu không thay đổi triệt để phương pháp làm, đầu tư công rất dễ lặp lại “vết xe đổ” của giai đoạn trước như giải ngân chậm, hiệu quả chưa cao, chuyển nguồn vốn lớn, dự án nhiều nhưng dàn trải, thiếu trọng tâm.
Cần thay đổi phương thức quản lý dự án đầu tư công
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, với tổng quy mô vốn dự kiến khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, tăng hơn 2,7 lần so với giai đoạn trước, tạo áp lực rất lớn về hiệu quả và nguồn lực. Trong đó, ngân sách Trung ương chiếm 3,8 triệu tỷ đồng, ngân sách địa phương 4,42 triệu tỷ đồng.
ĐBQH Trịnh Xuân An (Đồng Nai) bày tỏ băn khoăn khi chỉ tiêu thu từ địa phương được giao ở mức cao nhưng báo cáo chưa đánh giá đầy đủ các nguồn lực cụ thể, như thu nội địa, thu từ đất đai và các khoản thu khác. Theo đại biểu, việc giao chỉ tiêu thu cao đòi hỏi phải có tính toán kỹ lưỡng hơn.

Đặc biệt, đại biểu cảnh báo, nếu không đổi mới căn bản phương pháp làm, đầu tư công sẽ tiếp tục lặp lại những hạn chế cũ, như giải ngân chậm, hiệu quả thấp, chuyển nguồn lớn và đầu tư dàn trải.
Để khắc phục tình trạng dự án nhiều nhưng hiệu quả chưa tương xứng, đại biểu Trịnh Xuân An đề xuất thay đổi cách quản lý: thay vì xây dựng danh mục dự án chi tiết (trừ các dự án quan trọng quốc gia, an ninh, quốc phòng), Trung ương nên phân bổ theo từng “gói vốn” cho địa phương, trên cơ sở nhu cầu cấp bách của từng vùng để quyết định nhiệm vụ đầu tư.
Cùng với đó, cần thiết kế cơ chế quản lý dựa trên kết quả cuối cùng, gắn với hạch toán KT-XH và đánh giá hiệu quả đầu tư. Đây cũng là tinh thần chỉ đạo đã được quán triệt từ thực tiễn như dự án sân bay Long Thành.
Đối với các chương trình mục tiêu quốc gia, đại biểu bày tỏ lo ngại khi quy mô vốn rất lớn nhưng hiệu quả chưa rõ nét. Trong giai đoạn này, riêng 5 chương trình mục tiêu quốc gia đã có khoảng 175 nghìn tỷ đồng từ ngân sách bộ, ngành và 46 nghìn tỷ đồng từ địa phương. Đáng chú ý, chương trình mục tiêu về giáo dục có tổng mức đầu tư có thể lên tới gần 1 triệu tỷ đồng.
Đại biểu đề xuất cần thay đổi cách tiếp cận, không xây dựng chương trình theo kiểu "cộng dồn" nhu cầu từ dưới lên, dẫn đến danh mục đồ sộ nhưng khó kiểm soát hiệu quả; đồng thời phải quản lý theo kết quả đầu ra, hạch toán rõ ràng và loại bỏ các chi phí hành chính không cần thiết.
ĐBQH Tạ Lê Thanh (Cao Bằng) nhấn mạnh, việc bố trí đầu tư công cần tiếp tục theo hướng tập trung, khắc phục triệt để tình trạng dàn trải, phân tán, lãng phí. Theo đó, việc phân bổ nguồn vốn phải tuân thủ các tiêu chí, định mức đã quy định, đồng thời ưu tiên cho các dự án liên vùng, liên tỉnh, liên xã có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển địa phương, phù hợp với Kết luận số 18-K L/TW của Trung ương.

Từ thực tiễn triển khai, đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát lại các dự án chuyển tiếp nhằm bao quát đầy đủ, bảo đảm các dự án đáp ứng điều kiện chuyển tiếp được đưa vào danh mục, qua đó phát huy tối đa tiềm năng, hiệu quả đầu tư.
Dẫn chứng cụ thể, đại biểu nêu dự án Đồng Đăng - Trà Lĩnh được áp dụng theo Nghị quyết số 106 của Quốc hội. Hiện dự án đã được quyết định chủ trương đầu tư và chia thành hai giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1 đã hoàn thành khoảng 80% khối lượng, phấn đấu hoàn thành vào ngày 15/5. Dự kiến, giai đoạn 2 cần hơn 7.000 tỷ đồng vốn đầu tư công.
Tuy nhiên, theo đại biểu, dù Chính phủ đã tổng hợp, dự án này vẫn chưa được đưa vào danh sách các dự án chuyển tiếp. Trong khi đó, việc chia thành hai giai đoạn chỉ mang tính kỹ thuật, về bản chất vẫn là một dự án thống nhất. "Như vậy, đối với các dự án có tính chất tương tự, Chính phủ cần rà soát, bổ sung vào danh mục dự án chuyển tiếp để ưu tiên bố trí nguồn lực, nhất là với các công trình có vai trò quan trọng đối với phát triển vùng", đại biểu nhấn mạnh.
Trao quyền chủ động nhiều hơn trong thực hiện dự án ODA
Quan tâm đến giải ngân vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương (Đồng Nai) cho rằng, nguồn vốn này thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các công trình trọng điểm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, điều kiện vay vốn ODA có thể kém ưu đãi hơn, chi phí vốn gia tăng. Do đó, cần xây dựng hệ tiêu chí rõ ràng để lựa chọn các dự án thực sự cần sử dụng nguồn vốn này hoặc các nguồn huy động khác, ưu tiên lĩnh vực trọng điểm quốc gia, mang lại lợi ích xã hội lớn và bảo đảm hiệu quả về thời gian, nguồn lực, chi phí.
Để khắc phục tình trạng giải ngân chậm, đại biểu kiến nghị hoàn thiện cơ chế theo hướng linh hoạt, rút gọn thủ tục hành chính; rà soát, đơn giản hóa, chuẩn hóa quy trình phê duyệt dự án, giảm chồng chéo giữa các cơ quan. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng cơ chế “một cửa” trong thẩm định, phê duyệt; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao tính minh bạch và khả năng theo dõi tiến độ.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; trao quyền chủ động hơn cho các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư trong xử lý các vấn đề phát sinh trong phạm vi cho phép. Việc phân cấp phải đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả rõ ràng, bảo đảm trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân, đồng thời xác định thẩm quyền phê duyệt gắn với định mức tài chính cụ thể để phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương.
Ngoài ra, cần chú trọng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ trong chuẩn bị và triển khai dự án; xây dựng đội ngũ chuyên trách có chuyên môn sâu về quản lý dự án ODA, như lập, thẩm định dự án, quản lý hợp đồng, đấu thầu quốc tế và tài chính; bố trí cán bộ phù hợp với tính chất, quy mô dự án; đánh giá hiệu quả công việc dựa trên kết quả, gắn trách nhiệm cá nhân với tiến độ và chất lượng dự án.
Đại biểu cũng đề nghị áp dụng chế tài đối với các trường hợp chậm giải ngân vốn ODA không có lý do chính đáng, gây lãng phí; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm giải ngân kéo dài, làm phát sinh chi phí dự án và chi phí tài chính như lãi vay, phí cam kết, lãi quá hạn, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Việc khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải ngân vốn ODA, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực trong đầu tư công.