Kinh tế

Hội thảo khoa học cấp Quốc gia với chủ đề “Đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp”Cần chiến lược quốc gia tổng thể đào tạo nhân lực số

Đan Thanh 11/04/2026 06:28

Tại Hội thảo khoa học cấp Quốc gia với chủ đề “Đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp” do Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (GTVT) phối hợp với Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức sáng 10/4, các đại biểu nhất trí cho rằng, đầu tư cho nhân lực số chính là đầu tư tương lai đất nước. Do đó, cần có chiến lược quốc gia tổng thể với công tác này.

Nghịch lý giữa con số tăng trưởng và "khoảng trống" chuyên gia

Với dấu mốc quan trọng từ Đại hội XIV của Đảng, Việt Nam đang tự tin tiến vào giai đoạn phát triển đột phá, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 - tròn 100 năm thành lập nước. Trong mô hình tăng trưởng mới này, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò là động lực then chốt cho sự bứt phá. GS. TS. Hồ Sĩ Quý, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam cho rằng: nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực số, là “động lực của động lực chính” đó.

Nhìn vào số liệu thống kê có thể thấy nền tảng nhân lực đang có bước tiến đáng kể. Năm 2025, cả nước có 52,4 triệu lao động, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp đạt 29,2%, tăng nhẹ so với năm 2024. Riêng lĩnh vực công nghệ thông tin (IT) đã thu hút 1,26 triệu lao động, đóng góp quan trọng vào doanh thu 198 tỷ USD của toàn ngành công nghiệp công nghệ số.

h1.jpg
Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ GTVT, PGS. TS. Nguyễn Hoàng Long và Tổng Biên tập Báo Đại biểu Nhân dân Phạm Thị Thanh Huyền tặng hoa cho các chuyên gia tham dự hội thảo. Ảnh: Quang Khánh

Tuy nhiên, ẩn sau những con số tăng trưởng này là một thực trạng đầy thách thức. Ông Quý chỉ ra, dù Việt Nam được đánh giá cao về nhân lực IT, đặc biệt là mảng phần mềm với tốc độ tăng trưởng nhu cầu lên tới 71,5%, nhưng chúng ta đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động chuyên nghiệp và chuyên gia. Một nghịch lý đang tồn tại trên thị trường lao động: tỷ lệ ứng viên trên mỗi vị trí việc làm rất cao (như lập trình viên web đạt 145%, kỹ sư trí tuệ nhân tạo (AI) đạt 130%), nhưng doanh nghiệp vẫn không thể tuyển đủ người dù sẵn sàng trả mức lương cao hơn từ 10 - 15% cho các vị trí như kỹ sư database, kiến trúc sư giải pháp hay thiết kế vận hành.

Thực tế, phần lớn nhân lực số hiện nay mới chỉ dừng lại ở trình độ "gia nhập thế hệ số" chứ chưa thực sự làm chủ được các kỹ năng số. Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần khoảng 3 triệu lao động số, nhưng hiện tại chỉ có khoảng 30% trong số 50.000 sinh viên IT tốt nghiệp hàng năm đáp ứng được các yêu cầu khắt khe từ thị trường. GS. TS. Hồ Sĩ Quý nhấn mạnh, nguồn nhân lực hiện nay là sự đan xen giữa triển vọng và những khiếm khuyết "cốt tử", đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc từ cả phía người lao động lẫn cơ quan quản lý, chính sách.

Giải bài toán chênh lệch bằng mô hình đại học thông minh

Một trong những nguyên nhân then chốt dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu thực tế được bà Vũ Thị Kiều Ly, giảng viên Trường Đại học Công nghệ GTVT chỉ rõ: đó là sự mâu thuẫn về "nhịp độ". Trong khi công nghệ tại các doanh nghiệp thay đổi chóng mặt theo chu kỳ 1 - 2 năm, thì quy trình cập nhật chương trình đào tạo tại các trường đại học thường có độ trễ từ 3 - 5 năm do các rào cản hành chính và kiểm định. Sự "lệch pha" này khiến nguồn nhân lực luôn rơi vào trạng thái phải đào tạo lại, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Để khắc phục, xây dựng mô hình "đại học thông minh" là chìa khóa quan trọng. Theo bà Ly, xây dựng thành công đại học thông minh chính là lời giải cho bài toán chất lượng nhân lực, giúp rút ngắn khoảng cách phát triển và kiến tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Giải pháp đột phá trước hết phải đến từ việc hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản trị. Nhà nước cần sớm ban hành các quy định cụ thể về quản trị dữ liệu lớn (Big Data) và quyền riêng tư trong môi trường giáo dục, phù hợp với các chuẩn mực về an ninh phi truyền thống. Nhà nước cần cho phép các cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ hoàn toàn trong việc mở và thí điểm các ngành đào tạo liên quan đến công nghệ lõi (như chip bán dẫn, AI, logistics xanh). Đối với các ngành học này, cần thay thế cơ chế "tiền kiểm" dựa trên cam kết đầu tư và bảo trợ từ doanh nghiệp, giúp rút ngắn tối đa thời gian cung ứng nhân lực cho thị trường.

Để trở thành đại học thông minh, các cơ sở giáo dục cần triển khai hệ thống quản trị học tập thông minh tích hợp AI, điều này giải quyết triệt để bài toán đào tạo đại trà, hướng tới tối ưu hóa tiềm năng cá nhân.

Cơ chế ưu đãi rõ để khuyến khích hợp tác đào tạo

Tại hội thảo, các đại biểu cũng dành thời gian thảo luận về việc thúc đẩy các mô hình liên kết đa phương.

TS. Trần Thị Tâm, Khoa Luật - Chính trị, Trường Đại học Công nghệ GTVT chia sẻ, hiện nay, nhiều trường đã bắt đầu thúc đẩy mô hình "hợp tác năm bên": Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - địa phương - đối tác quốc tế để tiếp cận công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, để mô hình này thực sự hiệu quả, cần phải chuẩn hóa chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, đổi mới phương pháp giáo dục và đầu tư mạnh mẽ hơn vào đội ngũ giảng viên chuyên sâu. Cần có học phần “Học kỳ doanh nghiệp” trong chương trình đào tạo ngành nghề, bao gồm giao thông thông minh (ITS). Nhà trường cũng cần mời các doanh nghiệp về công nghệ tham gia xây dựng chương trình, chấm và đánh giá sinh viên khi tốt nghiệp.

Đồng tình với tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác trong đào tạo nhân lực, PGS. TS. Vũ Ngọc Khiêm, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ GTVT đặt vấn đề về vai trò dẫn dắt trong mối liên kết này. Ông cho rằng hiện nay doanh nghiệp vẫn chưa thực sự "mặn mà" đồng hành với nhà trường do thiếu cơ chế ưu đãi rõ ràng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên thực tập hoặc tham gia đào tạo, họ được hưởng các chính sách miễn giảm thuế.

Ghi nhận các ý kiến tham luận tâm huyết, trách nhiệm tại hội thảo, Tổng Biên tập Báo Đại biểu Nhân dân Phạm Thị Thanh Huyền cho biết đây là cơ sở để tiếp tục kiến nghị hoàn thiện chính sách.

Bà Huyền đồng tình cho rằng, trong kỷ nguyên số, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn là cạnh tranh về tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà là cạnh tranh về nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực số không thể là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục. Đây phải là một chiến lược quốc gia tổng thể từ thể chế, chính sách, mô hình đào tạo, cơ chế trọng dụng nhân tài, đặc biệt là chuyển mạnh từ đào tạo cái mình có sang đào tạo cái thị trường và tương lai cần. “Đầu tư nhân lực số chính là đầu tư cho một tương lai phát triển nhanh và bền vững của đất nước”, bà nói.

Đan Thanh