Nghị quyết 57-NQ/TW: Hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc Kỳ 3: Nghị quyết 57-NQ/TW: Thể chế “mở đường”, thực tiễn bứt phá
Thực tiễn triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW đã tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động, đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển chủ đạo. Đặc biệt, những đột phá trong hoàn thiện thể chế, với việc ban hành hàng loạt luật quan trọng và đổi mới cơ chế, chính sách, đang từng bước tháo gỡ các “điểm nghẽn”, tạo nền tảng để Nghị quyết đi vào cuộc sống, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
.jpg)
NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW: HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG VÀ THỊNH VƯỢNG CỦA DÂN TỘC
KỲ 3 (kỳ cuối):
Thể chế “mở đường”, thực tiễn bứt phá
Thực tiễn triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW đã tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động, đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển chủ đạo. Đặc biệt, những đột phá trong hoàn thiện thể chế, với việc ban hành hàng loạt luật quan trọng và đổi mới cơ chế, chính sách, đang từng bước tháo gỡ các “điểm nghẽn”, tạo nền tảng để Nghị quyết đi vào cuộc sống, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.

Hoàn thiện thể chế – khâu đột phá then chốt
Một trong những điểm nhấn nổi bật trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là công tác hoàn thiện thể chế đạt được bước đột phá then chốt.
Trong năm 2025, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 27 luật liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đặc biệt, lần đầu tiên Việt Nam ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số và Luật Công nghiệp công nghệ số, thể hiện vai trò nòng cốt trong hoàn thiện khung khổ pháp lý.
Luật Công nghiệp công nghệ số ghi dấu ấn Việt Nam trở thành nước đầu tiên trên thế giới ban hành một đạo luật riêng về lĩnh vực này. Lần đầu tiên, các khái niệm mới được định danh trong một văn bản luật, như: công nghệ số, công nghiệp công nghệ số, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tài sản số...
Luật Trí tuệ nhân tạo là đạo luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh toàn diện về phát triển, ứng dụng và quản trị AI. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải cho rằng, đây là đạo luật mang tính bước ngoặt, đặt nền móng pháp lý tiên phong giúp Việt Nam sẵn sàng bắt kịp xu thế trí tuệ nhân tạo toàn cầu.
Ông nhấn mạnh, với việc thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ rằng, Việt Nam quyết tâm nắm bắt cơ hội từ AI để bứt phá, đồng thời chủ động quản lý tốt những thách thức do công nghệ này mang lại. Với đạo luật này, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia tiên phong trên thế giới ban hành luật về AI.

Trong khi đó, Luật Chuyển đổi số được thông qua tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV đã tạo khung pháp lý thống nhất, góp phần khắc phục tình trạng “mỗi nơi một kiểu” và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Đại biểu Nguyễn Quang Huân, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Luật chuyển đổi số được ra đời trong bối cảnh chúng ta chuẩn bị ban hành Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới. Cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã nhất trí đưa ra mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP. “Theo tôi, Luật Chuyển đổi số ra đời lúc này đáp ứng tình hình thực tế, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW. Chúng ta thực hiện các chương trình về kinh tế số, Chính phủ số, xã hội số,... thì phải có luật. Như vậy, luật lần này ra đời rất đúng lúc”, đại biểu Nguyễn Quang Huân nói.

Trong năm 2025, thể chế cũng được đổi mới theo hướng tăng tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ; chuyển trọng tâm từ kiểm soát quy trình sang đánh giá kết quả, sản phẩm đầu ra; mở rộng áp dụng cơ chế khoán chi, đặt hàng theo kết quả và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm.
Những đổi mới này đã từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách kéo dài nhiều năm. Năm 2025 cũng là năm Chính phủ tăng cường nguồn lực cho đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mạnh nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.
Cùng với hoàn thiện thể chế, chuyển đổi số tiếp tục có bước bứt phá rõ rệt. Chỉ số hạ tầng viễn thông của Việt Nam tăng 41 bậc, tốc độ Internet tăng 42 bậc. Phát triển kinh tế số, xã hội số đạt kết quả quan trọng khi lần đầu tiên các nội dung cốt lõi được thể chế hóa trong Luật Chuyển đổi số (Luật số 148/2025/QH15).

Theo các chuyên gia, mấu chốt để triển khai các hoạt động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW suy cho cùng chính là thể chế, chính sách và nguồn nhân lực. Để đạt được mục tiêu phát triển các công nghệ cao thì phải có nhân tài. Trong bối cảnh hiện nay, tài nguyên lớn nhất của quốc gia, sức cạnh tranh lớn nhất của tổ chức và doanh nghiệp chính là nguồn lực con người. Vì vậy, việc đầu tư cho phát triển giáo dục đại học và nhân lực khoa học công nghệ, chính sách thu hút nhân tài phải sớm triển khai nhanh và quyết liệt.
Công nghệ cao đòi hỏi trình độ cao. Các công nghệ cao xuất phát điểm sẽ từ các phòng thí nghiệm của các trường đại học, viện nghiên cứu, từ trí tuệ của các nhà khoa học. Để nắm bắt và phát triển công nghệ cao thì các nhà khoa học, các trường đại học, các viện nghiên cứu của hệ thống giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt. Vì vậy, giáo dục đại học Việt Nam có cất cánh, đất nước mới có thể cất cánh.
Nghị quyết số 57-NQ/TW là kim chỉ nam cho hoạt động của các trường đại học, viện nghiên cứu. Các cơ sở giáo dục đại học phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược phát triển của mình phù hợp với chiến lược và chính sách phát triển của quốc gia, theo những nội dung và mục tiêu mà Nghị quyết đã đề ra. Bên cạnh đó, các trường cần tiên phong trong việc chuyển đổi số. Hệ thống công nghệ, hạ tầng và dữ liệu, ứng dụng AI trong trường đại học phải được đầu tư, xây dựng và vận hành chuẩn chỉnh và là hình mẫu cho việc chuyển đổi số của quốc gia.


Cần sự hợp lực giữa “5 nhà”
Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa, Nghị quyết 57-NQ/TW, cùng Nghị quyết 193/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo nên một luồng gió mới rất mạnh mẽ và chắc chắn sẽ có những chuyển động lớn và rộng rãi trong thời gian tới.
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa nhấn mạnh vai trò của sự hợp lực giữa “5 nhà”: nhà lập pháp, nhà quản lý nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và truyền thông, để hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết đề ra. Trong đó, về phía cơ quan lập pháp, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, từ các dữ liệu, phân tích kỹ về thực trạng, nguyên nhân sẽ có những kiến nghị giải pháp phù hợp để điều chỉnh cơ chế, chính sách trong thời gian sắp tới. Bên cạnh đó, phối hợp với Chính phủ rà soát, điều chỉnh, sửa đổi các luật có liên quan gồm: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); Luật Giáo dục đại học (sửa đổi).

Việc sửa đổi cùng lúc 3 luật này sẽ có cái nhìn tổng thể, từ đó điều chỉnh các quy định liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực, từ giáo dục phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; bao gồm cả xem xét cơ chế, chính sách và xác định trách nhiệm của các bên liên quan trong đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực chất lượng cao lĩnh vực khoa học - công nghệ.
Theo bà Hoa, thể chế hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tại Kỳ họp bất thường vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 193/2025/QH15. Trong số các cơ chế, chính sách quy định trong Nghị quyết này có thí điểm chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; trao quyền tự chủ trong quản lý, khai thác những tài sản hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Thị Mai Hoa cho rằng, đây là câu chuyện rất lớn, rất quan trọng. Trong đó, tháo gỡ vướng mắc liên quan tới giao quyền tự chủ trong quản lý, khai thác tài sản được hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học mạnh dạn hơn trong việc thương mại hóa các sản phẩm của mình và sẽ có một nguồn thu lớn từ nghiên cứu khoa học.
“Về phía trách nhiệm của cơ quan Quốc hội, ngoài nhiệm vụ lập pháp, chúng tôi cũng sẽ tăng cường khâu giám sát. Quá trình đưa Nghị quyết 57-NQ/TW cùng Nghị quyết 193/2025/QH15 vào thực tế cuộc sống rất cần có hoạt động giám sát của Quốc hội, của các cơ quan Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội. Chúng tôi sẽ đồng hành với các nhà trường trong việc xem xét khâu triển khai các Nghị quyết này”, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa cho hay.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Văn Phúc thẳng thắn cho rằng các trường đại học “còn rất nhiều việc phải làm”, từ nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng tỉ trọng nguồn thu từ khoa học - công nghệ, đến đẩy mạnh chuyển giao, thương mại hóa sản phẩm - những mảng còn khiêm tốn so với các đại học ở các nước phát triển.

Theo Bộ GD-ĐT, giáo dục đại học hiện có gần 90.000 giảng viên và hơn 2 triệu sinh viên - đây là đội ngũ phát triển khoa học, công nghệ mạnh mẽ.
Hệ thống giáo dục đại học đóng vai trò nòng cốt trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Dù có nhiều khó khăn, thách thức nhưng ngành Giáo dục đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển đột phá, chuyển biến mạnh mẽ trong toàn ngành từ Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngành Giáo dục xác định một số nhiệm vụ trọng tâm như: hoàn thiện thể chế, chính sách, rà soát, tháo gỡ các “điểm nghẽn”; trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học; nâng cao năng lực hệ thống và hiệu quả quản lý nhà nước, tối ưu hiệu quả hoạt động của giáo dục đại học; phát triển mạng lưới giáo dục đại học số, tạo mục tiêu nâng cao chất lượng; xây dựng khung phát triển giáo dục đại học làm căn cứ tiếp tục đổi mới, phát triển căn bản, toàn diện giáo dục đại học; tập trung đào tạo nhân lực STEM gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo,…
Phải có nền móng vững chắc
TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường Đại học FPT nhận định: Nghị quyết số 57-NQ/TW là dấu mốc lịch sử, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đào tạo, nghiên cứu trong cơ sở giáo dục đại học. 2 - 3 năm trở lại đây, AI vừa là cơ hội, vừa là sự đe dọa, thách thức. Nếu không đổi mới sẽ rất khó tồn tại, đặc biệt với các trường đại học có trách nhiệm đào tạo nhân lực cho tương lai.
“Giáo dục đại học giờ đây không như một “tháp ngà” nữa. Không thể không thay đổi cách thức dạy và học trong nhà trường, đồng thời thay đổi về thể chế, cách thức quản lý nhà nước. Đơn cử những quy định về tiêu chí liên quan đến giảng viên, diện tích,... không thể như cũ, bởi sẽ kìm hãm sự thay đổi”, ông chia sẻ.

TS Lê Trường Tùng dẫn chứng câu chuyện của Trường Đại học FPT từ khi ra đời đến nay phải liên tục thích ứng với bức tranh giáo dục đại học mới, từ giai đoạn dịch chuyển từ tinh hoa sang đại chúng đến giai đoạn bắt đầu phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và đến giờ chính thức bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong chuỗi vận hành ấy, chiến lược “làm khác để làm tốt” được vận dụng, để đào tạo hội nhập nhanh chóng với những biến động liên tục, từng ngày của khoa học, công nghệ.
PGS.TS Đặng Hoài Bắc, Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông nhấn mạnh, để hiện thực hóa Nghị quyết 57-NQ/TW phải có nền móng vững chắc. Tạo lập nền móng này là sứ mệnh của các trường đại học - đơn vị tập trung nguồn lực cao về khoa học, công nghệ, đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực.
Đơn cử, theo quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông được định hướng phát triển thành một trong 5 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia về kỹ thuật, công nghệ.

"Tuy nhiên, phát triển nhân lực ngành khoa học, công nghệ không chỉ nằm ở 5 cơ sở đó mà cần có sự cộng tác, chia sẻ tri thức, nguồn lực, chuyên gia, học liệu từ các cơ sở đào tạo đại học khác", PGS.TS Đặng Hoài Bắc nói.
Theo ông Bắc, cùng với chủ trương từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, khung pháp lý về đào tạo nhân lực phải được tháo gỡ một cách mạnh mẽ. Đã đến lúc Việt Nam phải tăng cường thúc đẩy mô hình xuất khẩu tri thức, cần hành lang pháp lý rộng, thoáng. Nguồn tài nguyên dần cạn kiệt nhưng tri thức từ khoa học, công nghệ vô cùng lớn. Cần mở ra nhiều chính sách hơn nữa để nhân lực khoa học, công nghệ có đóng góp hơn nữa vào việc ứng dụng sản phẩm, đem lại giá trị kinh tế cao.
GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, sự ra đời của Nghị quyết 57-NQ/TW có ý nghĩa cách mạng để đưa đất nước phát triển. Cùng với Nghị quyết 193/2025/QH15 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp bất thường vừa qua, đây là sự nhìn nhận, đánh giá đúng thực lực, vai trò của các cơ sở giáo dục đại học và khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế. “Muốn tạo đột phá chỉ có cách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là cơ hội lớn để các trường nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”’, ông khẳng định.

GS.TS Chử Đức Trình nhấn mạnh, Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 193/2025/QH15 đã “cởi trói” cho cơ sở giáo dục đại học công lập, tạo đà đưa khoa học, công nghệ trở thành trụ cột trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi triển khai cần dựa trên điều kiện, yêu cầu thực tiễn, tạo ra lực đẩy đối với hệ sinh thái đổi mới khoa học, công nghệ.
“Thời gian tới Chính phủ cần đầu tư nhiều hơn cho các trường, ưu tiên có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt là xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành… Đồng thời, tạo cơ chế liên minh hệ thống giáo dục đồng hành, chia sẻ nguồn lực”, GS.TS Chử Đức Trình nói.
Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ cao. PGS.TS Chu Cẩm Thơ cho rằng, hiện nay, khoa học, công nghệ mang sứ mệnh rất khác, trở thành lực lượng sản xuất ngay trong chính nội tại của các phương thức sản xuất, không chỉ đơn thuần là công cụ cho các ngành khoa học cũng như phát triển về nhân lực. Bên cạnh đó, khoa học, công nghệ được xác định là một bước đột phá, cần tăng cường ứng dụng để các nghiên cứu có ý nghĩa ngay trong đời sống và sản xuất.
Thực tiễn cho thấy, nếu như không nắm được công nghệ lõi, chúng ta sẽ không thể chủ động trong phát triển kinh tế - xã hội, kể cả những lĩnh vực mới như công nghiệp văn hóa. Muốn có công nghệ lõi phải giải quyết từ khoa học và từ đào tạo nguồn nhân lực.
Thực hiện thành công Nghị quyết 57 -NQ/TW và đưa các trường đại học Việt Nam lọt vào top 100 thế giới là một thách thức lớn, nhưng cũng là một cơ hội lịch sử để khẳng định vị thế học thuật và phát triển nền tri thức quốc gia. Để đạt được mục tiêu này, bên cạnh quyết tâm và chỉ đạo quyết liệt của Đảng, cần sự quyết tâm cao độ, đổi mới tư duy, thay đổi nhận thức, sự thay đổi quyết liệt trong hành động từ Quốc hội khi xây dựng luật và các thể chế, từ Chính phủ trong chỉ đạo điều hành, cũng như ban hành các nghị định, chính sách và Chiến lược phát triển Khoa học công nghệ và Giáo dục quốc gia; sự thay đổi tư duy và nhận thức, hành động của Bộ Tài chính, Bộ GD-ĐT, Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ ngành liên quan; sự chuyển mình mạnh mẽ của các trường đại học, của đội ngũ giảng viên và nhà khoa học, cùng sự chung tay của doanh nghiệp và toàn xã hội.
Hồng Hạnh - Nguyễn Liên - Xuân Quý - Duy Thông