Nghị quyết 57-NQ/TW: Hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộcKỳ 2: Nghị quyết 57-NQ/TW: Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực
Dữ liệu chính là tài nguyên của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, đẩy mạnh chuyển đổi số phải có quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Các bộ, ngành, từ trung ương tới địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp, từng cá nhân phải vào cuộc. Bên cạnh đó, phải có thể chế và nguồn lực để thúc đẩy thực hiện, đi đôi với kiểm tra và giám sát thực thi.

NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW: HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG VÀ THỊNH VƯỢNG CỦA DÂN TỘC
KỲ 2
Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực
Dữ liệu chính là tài nguyên của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, đẩy mạnh chuyển đổi số phải có quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Các bộ, ngành, từ trung ương tới địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp, từng cá nhân phải vào cuộc. Bên cạnh đó, phải có thể chế và nguồn lực để thúc đẩy thực hiện, đi đôi với kiểm tra và giám sát thực thi.

Tháo gỡ điểm nghẽn
Ngày 15/10, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã chủ trì Phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo đánh giá tình hình 9 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong các tháng cuối năm.
Báo cáo tại phiên họp cho thấy, nhìn lại 9 tháng qua, Nghị quyết 57-NQ/TW đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Nhiều kết quả cụ thể, thiết thực đã góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, vận hành hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Qua đó, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm, nhiều điểm nghẽn tiếp tục phải giải quyết để đột phá mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Phát biểu tại cuộc họp, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW là nội dung rất quan trọng, là động lực chính để thực hiện thành công các đột phá chiến lược, chuyển đổi mô hình phát triển đất nước, xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước theo tinh thần Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Về các định hướng chiến lược, Tổng Bí thư chỉ rõ phải kiên định triển khai theo nguyên tắc điều hành mới đã được Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII thống nhất: “Kỷ cương đi trước - Nguồn lực đi cùng - Kết quả là thước đo”. Đây phải là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Kỷ cương thể hiện ở việc chấp hành nghiêm các kết luận chỉ đạo, tuân thủ tiến độ, không đùn đẩy, né tránh; phải xử lý dứt điểm các nhiệm vụ quá hạn. Nguồn lực phải được bảo đảm đầy đủ, phân bổ đúng, trúng, nhanh, hiệu quả, tránh dàn trải, lãng phí. Mọi nỗ lực phải được đo lường bằng kết quả cụ thể, thực chất, cân - đo - đong - đếm được, chứ không phải bằng những báo cáo hình thức.
Tổng Bí thư yêu cầu phải lấy việc tháo gỡ điểm nghẽn thể chế làm nhiệm vụ đột phá hàng đầu; khai thác dữ liệu để phá vỡ “tư duy cát cứ”; thể chế về sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu để kết nối viện - trường với thị trường; thể chế về hợp tác công - tư để huy động nguồn lực xã hội; tháo gỡ, đồng thời phải có cơ chế đủ mạnh để bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bên cạnh đó, phải kiến tạo hệ sinh thái, khơi thông mạnh mẽ nguồn lực xã hội, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, từ "Nhà nước làm" sang "Nhà nước kiến tạo” nhằm giải phóng và huy động tối đa nguồn lực tư nhân cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, theo nguyên tắc “Những gì khu vực tư nhân làm được mà không phải lĩnh vực Nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì tạo điều kiện, khuyến khích để khu vực tư nhân làm”. Chỉ khi doanh nghiệp thực sự là trung tâm, mô hình 3 Nhà (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp) mới đi vào thực chất.
Tổng Bí thư đề nghị, phải lấy sự hài lòng và niềm tin của người dân và doanh nghiệp làm thước đo; phải quyết liệt số hóa toàn diện quy trình, triển khai dịch vụ công "một cửa - một lần khai" trên nền dữ liệu liên thông.
Để hiện thực hóa các định hướng lớn đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh, phải thống nhất một phương châm hành động kiên quyết, minh bạch, nhất quán, như tinh thần chỉ đạo của Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII: “Ba trọng tâm - Ba công khai - Một thước đo” (Ba trọng tâm: Thể chế hóa nhanh các kết luận chỉ đạo của Ban Chỉ đạo; tổ chức thực thi quyết liệt, có sản phẩm cụ thể; kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp thời tháo gỡ vướng mắc; Ba công khai: Công khai tiến độ; công khai trách nhiệm; công khai kết quả để nhân dân, xã hội cùng giám sát, đồng hành; Một thước đo: Mức sống và niềm tin của nhân dân).
Yêu cầu thể chế hóa và nhân rộng “Mô hình quản trị thực thi đột phá” để áp dụng cho các nhiệm vụ phức tạp, có tính liên ngành cao trong giai đoạn tới, Tổng Bí thư lưu ý, tất cả các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu, cần phải nêu gương, chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và trước nhân dân về việc triển khai các nhiệm vụ, đảm bảo hoàn thành mọi nhiệm vụ đúng hạn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, mang lại hiệu quả.
Các cơ quan Đảng từ Trung ương đến địa phương triển khai đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng bảo đảm hiệu quả, theo đúng lộ trình đã đề ra.

Tổng Bí thư đề nghị, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành luật, nỗ lực phấn đấu 100% các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành các luật mới liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải được ban hành và có hiệu lực trước ngày 31/3/2026.
Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo triển khai Đề án chuyển đổi số của Quốc hội. Nội dung giám sát phải tập trung vào 3 vấn đề cốt lõi nhất: Tiến độ và chất lượng xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia; hiệu quả giải ngân và sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước; kết quả thực chất của việc thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ và mô hình "3 nhà".
Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo triển khai Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; chỉ đạo tổ chức các chương trình giám sát và phản biện xã hội một cách độc lập, thực chất về chất lượng nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; cung cấp dịch vụ công trực tuyến và tiến độ triển khai các cơ sở dữ liệu quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân.
Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh, “trách nhiệm của người đứng đầu, trước hết là các đồng chí bộ trưởng, trưởng ngành, bí thư, chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp xã và lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia với vận mệnh của đất nước; quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; không chấp nhận “tư duy nhiệm kỳ”, “níu kéo lợi ích cục bộ”, không dám nghĩ, không dám làm, không dám đột phá. Ai vướng vào những tình trạng này mà không sửa đổi thì phải kịp thời thay thế, không được làm chậm tiến trình phát triển của đất nước”.
Dám chấp nhận thất bại để có những thành công khác
Nhấn mạnh ý nghĩa của Nghị quyết 57-NQ/TW đối với việc phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy khẳng định, Nghị quyết 57-NQ/TW tạo động lực lớn cho hệ thống chính trị, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân. Có thể coi Nghị quyết là một “cuộc cách mạng” thay đổi từ nhận thức đến nội dung, phương thức làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước. Nghị quyết 57-NQ/TW chọn cách đi vào những vấn đề rất mới của thời đại như dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, blockchain, IoT, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát các công nghệ mới để thúc đẩy nhanh nhất, đưa các sản phẩm công nghệ mới, công nghệ chiến lược vào cuộc sống.

Thứ trưởng Bùi Thế Duy nhấn mạnh việc cần nhanh chóng đưa Nghị quyết 57-NQ/TW đi vào cuộc sống. Trong bối cảnh thế giới và khoa học - công nghệ phát triển rất nhanh, nếu Nghị quyết không được triển khai nhanh chóng sẽ có thể lạc hậu. Thứ trưởng cho rằng, để cụ thể hóa Nghị quyết này thành những thể chế, giải pháp, chắc chắn cách thức làm việc của đội ngũ cán bộ phải thay đổi, tốc độ làm việc phải cao hơn.
“Chúng ta không thể như trước đây là sửa luật, nghị định, thông tư theo năm, bây giờ phải tốc độ theo tháng. Nghị quyết cũng cần được lan tỏa rộng rãi, trở thành hành động cụ thể đối với từng cán bộ quản lý, đảng viên, các cấp ủy, doanh nghiệp, người dân; tạo nên một cuộc cách mạng thay đổi phương thức làm việc. Trong đó, mọi cá nhân đều phải thay đổi cách thức làm việc, dựa trên dữ liệu, với các hệ thống tự động hóa, trí tuệ nhân tạo cùng các kỹ năng mới như tích lũy, phân tích dữ liệu. Nếu chỉ triển khai ở một vài bộ phận hay một vài địa bàn sẽ không tạo ra được sự lan tỏa”, Thứ trưởng cho hay.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, trước đây, chúng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết rất đúng và trúng trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, nhưng trên thực tế triển khai, bên cạnh những thành tựu rất to lớn đã đạt được cũng còn rất nhiều hạn chế, tồn tại, chủ yếu do chồng chéo của các văn bản, quy định. Việc tổ chức phê duyệt và triển khai các nghiên cứu còn chậm, thủ tục rườm rà và đầu tư chưa xứng tầm, cũng bởi tư duy và nhận thức chưa thực sự hiểu đúng vai trò của khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực trình độ cao đối với sự phát triển của đất nước.
Do đó, để thực hiện thành công các mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW, cách tiếp cận và tư duy của các bộ, ngành, các viện nghiên cứu, trường đại học và toàn xã hội trong đầu tư cho các trường đại học, đầu tư cho các nhà khoa học, cho nghiên cứu khoa học phải đổi mới, phải thay đổi so với trước đây. Chúng ta phải thay đổi nhận thức để đầu tư mọi nguồn lực nhanh nhất và tốt nhất cho khoa học, công nghệ, cho các trường đại học, viện nghiên cứu.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, trên cơ sở Nghị quyết này, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục đại học và các bộ luật khác sẽ phải thay đổi trên cơ sở nhận thức, tư duy và tầm nhìn như vậy. Các cơ quan, bộ, ngành khi xây dựng các luật, nghị định phải nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc về thể chế cho hoạt động khoa học, công nghệ và các chính sách phải mang tính kiến tạo, đầu tư tới tầm và xứng tầm cho nghiên cứu, cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực, cho cơ sở vật chất phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đặc biệt là các công nghệ cao. Các chính sách cũng phải hướng tới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia vào chuyển đổi số và phát triển công nghệ, có như vậy mới mong đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, tức là đẩy mạnh quá trình từ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tới các sản phẩm công nghệ cao.
Đồng thời, Việt Nam có thể đi sau nhưng phải quyết tâm về trước, không thể tụt hậu. Do đó phải mạnh dạn thí điểm những phương thức mới, cách làm mới để “vừa xếp hàng, vừa chạy”, nhanh chóng nắm bắt được các cơ hội, phát triển các công nghệ cao. Vì vậy, Nhà nước và các bộ, ngành phải có trách nhiệm xây dựng thể chế thông thoáng và kịp thời để sự nghiệp chuyển đổi số và khoa học, công nghệ của quốc gia tiến nhanh, tiến mạnh, không “lề dề”. Thể chế, nhân lực, hạ tầng và dữ liệu là những nội dung trọng tâm, cốt lõi.
Bên cạnh đó, phải mạnh dạn đầu tư cho các nghiên cứu rủi ro. “Trước đây, chúng ta mới chỉ quan tâm, chú ý xử lý các rủi ro trong quá trình triển khai các hoạt động khoa học - công nghệ. Các công nghệ cao là khó, giá trị thặng dư cao, nhưng quả thực không dễ dàng. Không phải nghiên cứu đỉnh cao nào cũng thành công, nhưng nếu thành công thì sức bứt phá rất lớn. Vì vậy, phải dám đầu tư cho công nghệ cao, dám chấp nhận thất bại để có những thành công khác”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho hay.
Theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Long - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải, thời gian qua, Đảng và Nhà nước giao cho các trường đại học nhiều nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải đầu tư mạnh hơn về cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, nhân lực nghiên cứu. Tuy nhiên, quá trình triển khai ở cơ sở vẫn còn không ít vướng mắc, đặc biệt trong bố trí nguồn lực tài chính, tiếp cận các cơ chế khuyến khích, cũng như thủ tục để tham gia chương trình, nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp.

Theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Long, việc khuyến khích hợp tác công - tư trong phát triển hạ tầng nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm, cùng cơ chế cho phép hình thành các quỹ đầu tư cho dự án nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa, được nhìn nhận là “chiếc chìa khóa” để tháo gỡ nút thắt nguồn lực – vấn đề mà không ít trường đại học đang gặp phải khi muốn nâng tầm hoạt động khoa học - công nghệ nhưng ngân sách Nhà nước có hạn.
Nói về các nội dung trọng tâm của những văn bản pháp lý mới như Nghị định 267/2025/NĐ-CP, 268/2025/NĐ-CP, 263/2025/NĐ-CP, cùng các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và cơ chế phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ông cho rằng, với các văn bản pháp lý trên, các trường đại học có thêm “cánh cửa” để nhóm nghiên cứu, trung tâm khoa học trong trường tham gia đề tài, dự án các cấp, đồng thời có dư địa lớn hơn để thương mại hóa kết quả nghiên cứu một cách minh bạch, đúng luật.
Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, khoa học công nghệ là gốc, là giá trị cốt lõi. Để thực hiện thành công mục tiêu này, nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu có vai trò then chốt. Các trường đại học không vào cuộc, không đổi mới quyết liệt thì giáo dục đại học không thể thay đổi và “cất cánh”. Khi đó, khoa học công nghệ cũng khó có thể phát triển, đưa đất nước phát triển như kỳ vọng của Nghị quyết 57-NQ/TW.
Năm 2025 là năm bản lề, các trường đại học, viện nghiên cứu bắt tay vào giai đoạn 5 năm 2025-2030 cùng với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, các trường đại học Việt Nam cần quyết liệt định hướng lại chiến lược phát triển trong giai đoạn mới để thực hiện thành công chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và Bộ Chính trị.
Hồng Hạnh- Nguyễn Liên - Xuân Quý - Duy Thông