Tầm vóc văn hóa của kỷ nguyên Việt Nam phú cường:Bài 2: Định vị văn hóa trong tầm nhìn phát triển bền vững và nhân văn
Sau 40 năm Đổi mới, bước vào kỷ nguyên phú cường, dù muốn hay không, đất nước đang và sẽ đối mặt với không ít nan giải trên con đường phát triển. Nếu không nhận diện đúng, trúng những “mạch ngầm”, ghềnh thác và kiếm tìm phương sách giải quyết phù hợp, nhất định sẽ rất khó định vị văn hóa trong kỷ nguyên phú cường và phát triển kỷ nguyên vươn mình mang tầm văn hóa thời đại.
Nhận diện những mâu thuẫn cơ bản
Từ thực tiễn, có thể hình dung những chướng ngại, mâu thuẫn trong sự phát triển văn hóa với tư cách “soi đường cho quốc dân đi” như một hệ điều tiết với tầm viễn kiến và hệ động lực thúc đẩy đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và xói mòn văn hóa: Sự phát triển nóng về vật chất đôi khi làm băng hoại các giá trị đạo đức. Đây là nguy cơ phản phát triển, phản văn hóa.

Mâu thuẫn giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị: Hệ thống thể chế đôi khi chưa theo kịp sự vận động linh hoạt của thị trường và nhu cầu của Nhân dân.
Mâu thuẫn giữa khát vọng và năng lực thực thi: Khát vọng vươn mình rất lớn nhưng năng lực quản trị, tổ chức thực hiện và trình độ của một bộ phận cán bộ còn yếu, gây ra hiện tượng lệch pha, khấp khiểng, phá vỡ tính hệ thống chỉnh thể.
Mâu thuẫn giữa thời cơ và thách thức toàn cầu: Việc giữ vững độc lập, tự chủ về văn hóa và tư tưởng trong khi phải hội nhập sâu rộng vào thế giới và khẳng định bản sắc quốc gia trong dòng chảy văn minh nhân loại.
Định vị vai trò của văn hóa
Đất nước đang đứng trước vận hội mới, trong tâm thế mới. Nhìn lại hành trình 40 năm Đổi mới, hình bóng và linh hồn dân tộc không bao giờ chịu khuất phục trước thách thức. Sức mạnh đất nước không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng GDP mà nằm ở khối gắn kết triệu người như một - sức mạnh tự thân, vươn dậy từ bùn đất, từ nghèo khó để bước tới văn minh và phú cường. Khi xác định rõ Dân là gốc, trọng nhân văn, dân tộc không thể không xứng đáng nắm giữ chìa khóa của sự trường tồn và phú cường như một lẽ tự nhiên.
Văn hóa phải là tấm căn cước dân tộc trong thế giới phẳng. Văn hóa ngày càng xứng đáng là tấm căn cước của dân tộc Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Bản sắc là sức mạnh định danh. Sự phú cường không chỉ đo bằng GDP mà bằng việc thế giới nhận diện được Việt Nam qua những giá trị độc bản. Việc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới một cách có chọn lọc, dựa trên nền tảng vững chắc của hồn cốt dân tộc bảo đảm càng hòa nhập càng chính là mình.
Việt Nam là một thực thể phát triển đa dạng, bản sắc của văn hóa nhân loại. Văn hóa Việt Nam chính là chủ nghĩa xã hội Việt Nam hướng tới và hàm chứa các giá trị phổ quát tiến bộ của loài người. Đó là, tính nhân văn: Sự phú cường của Việt Nam đóng góp vào thế giới hình mẫu về một quốc gia phát triển bền vững, trọng nghĩa tình và lấy con người làm trung tâm. Cống hiến di sản: Việt Nam không chỉ thụ hưởng mà còn làm giàu cho kho tàng văn hóa thế giới thông qua các di sản văn hóa thiên nhiên được quốc tế công nhận.

Văn hóa - hệ điều hành dân tộc - văn hóa hóa kỷ nguyên phú cường. Với hệ giá trị phát triển quốc gia Độc lập - Tự do - Dân chủ - Pháp quyền - Nhân văn - Phú cường, trong đó, tính nhân văn (văn hóa) là điều kiện cần để đạt được sự phú cường (thịnh vượng và hùng mạnh) bền vững. Nhân văn phải là mục tiêu phát triển quốc gia: Mọi quyết sách kinh tế hay quản trị đều phải lấy con người làm trung tâm, bảo đảm công bằng xã hội, phát triển bền vững phụng sự hạnh phúc của Nhân dân. Chính trị dẫn đường - Văn hóa soi đường: Chính trị phải định hướng bằng tầm nhìn chiến lược, nhưng văn hóa phải là yếu tố điều tiết để bảo đảm sự phát triển bền vững và nhân văn nhằm phát triển Quốc thể bản sắc độc đáo. Khoa học định hình, kiến tạo và là động lực phát triển văn hóa, bao gồm khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng và khoa học triển khai, bảo đảm khoa học liên ngành song hành với khoa học chuyên ngành, từ kinh tế học, chính trị học, triết học, sử học, văn học tới nhân học, tương lai học...; đồng thời, thâu thái, tiếp biến văn hóa tinh hoa thế giới. Nhân dân làm chủ thể văn hóa dân tộc: Khơi dậy sức mạnh sáng tạo và thụ hưởng của Nhân dân một cách thống nhất nhưng đa dạng, từ phong tục tập quán, văn chương nghệ thuật dân gian tới gia phong, quốc pháp… trong không gian sáng tạo đa dạng giữa văn hóa bác học và văn hóa dân gian.
Dưới góc nhìn văn hóa phát triển, văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, bảo đảm cho sự phát triển kỷ nguyên phú cường, không chỉ nhanh mà còn bền vững và nhân văn. Nâng cao sức đề kháng văn hóa Việt Nam và cảnh giới mọi hình thái xân lăng văn hóa và văn hóa xâm lăng trong kỷ nguyên số, đặc biệt cảnh giới nguy cơ hòa tan và phản phát triển trong thế giới phẳng và cả rất không phẳng.
Khi Đảng cầm quyền bằng phương thức văn hóa, Nhà nước quản trị bằng pháp luật nhân văn và Nhân dân đồng lòng thực thi ngang tầm văn hóa, Việt Nam sẽ thực sự bước vào kỷ nguyên phú cường ngang tầm văn hóa. Một lần nữa, cần khắc sâu, nếu kinh tế là cái đi tới hiện hình thì văn hóa là cái kết tinh, tỏa sáng và thành hồn cốt, linh khí. Việt Nam bước ra thế giới với tư thế của một quốc gia phú cường, không phải bằng sự bắt chước mù quáng, mà bằng bản sắc văn hóa độc bản. Đó chính là tầm vóc văn hóa mang tính thời đại của kỷ nguyên Việt Nam phú cường mang tầm văn hóa.
Lộ trình và hành động trong kỷ nguyên văn hóa phú cường
Nếu kinh tế là động lực (phát triển nhân văn và bền vững), xã hội là nền tảng (gắn kết và giữ gìn bản sắc), đối ngoại là sức mạnh mềm (tạo dựng uy tín và vị thế) và an ninh, quốc phòng là bản lĩnh (xây dựng lòng Dân làm thành trì), chính trị phải là đạo đức (kiểm soát sự tha hóa quyền lực)…, thì văn hóa phải tiên phong, giữ vị thế điều tiết và xuyên thấm trong kinh tế và chính trị, với bản sắc dân tộc, để Việt Nam không trở thành "cái bóng" của bất kỳ cường quốc nào.
Văn hóa trong chính trị - nghệ thuật cầm quyền và đạo đức cách mạng: Văn hóa là cánh chim báo bão của chính trị và đến lượt chính trị đỉnh cao phải là văn hóa. Một nền chính trị vững mạnh phải là một nền chính trị có văn hóa. Đó là nền chính trị Việt Nam.
Văn hóa chính trị cao nhất chính là sự liêm sỉ và tinh thần phụng sự Nhân dân. Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” - đó không chỉ là khẩu hiệu, đó là tiêu chuẩn sinh tồn và cương lĩnh hành động có ý nghĩa như sinh lộ, tử lộ. Đảng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ bằng định hướng phát triển chiến lược, đề ra tầm nhìn chiến lược mà còn nêu gương bằng văn hóa chính trị của đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Chính trị vĩ đại là chính trị vì con người. Một Đảng vĩ đại là một Đảng mang trong mình dòng máu văn hóa dân tộc. Với tư cách là “con nòi” của dân tộc, Đảng không chỉ là tổ chức lãnh đạo mà phải là biểu tượng đạo đức, trí tuệ và lợi ích của toàn dân. Sức mạnh của Đảng nằm ở sự thu phục nhân tâm thay vì chỉ bằng mệnh lệnh hành chính. Đảng lãnh đạo, cầm quyền tuân thủ quy luật về lòng Dân - yếu tố căn bản quyết định sự tồn vong của thể chế.
Đặc biệt, trong cuộc đổi mới nền hành chính quốc gia và sắp xếp lại hệ thống chính trị đặt ra trước Nhà nước và chính quyền địa phương 2 cấp những thách thức mới về quản trị xã hội: vai trò cấp cơ sở với những điều kiện cần và đủ; sự phân hóa trong đội ngũ cán bộ, công chức giữa những người ở lại và những người nghỉ; giữa nhiệm vụ ngày càng tăng ở cơ sở và sự bất cập (trên nhiều phương diện) của cán bộ, công chức ở cơ sở; giữa trọng trách cơ sở và năng lực cán bộ, sau cấu trúc lại…, thì sự nghiệp lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không ngừng tăng theo quy luật phát triển của văn hóa.
Đối với mỗi người, trước hết, mỗi đảng viên, cán bộ tự giác đặt mình trong đạo đức trên nền tảng pháp luật: Tự do không phải là vô hạn độ, vượt khỏi kỷ cương mà phải là tự giác hành động một cách danh dự và liêm sỉ thật sự tự do. Đây là cái tất yếu đạo đức để giữ vững tư cách, linh hồn chế độ một cách tự do - nền móng và linh hồn hạnh phúc của đất nước độc lập.
Nhà nước pháp quyền không chỉ là luật mà là đạo. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không đơn thuần là việc quản lý xã hội bằng pháp luật, mà đỉnh cao của nó là pháp quyền nhân văn và đạo lý dân tộc. Thượng tôn pháp luật phải gắn liền với đạo lý. Pháp luật cần thấm đẫm đạo đức của dân tộc. Trong bước chuyển từ mệnh lệnh và “quản chặt” sang quản trị, kiến tạo và phục vụ; chuyển từ can thiệp trực tiếp sang kiến tạo môi trường sáng tạo và bảo vệ bản quyền - nơi mỗi công chức xem việc phụng sự Nhân dân là một giá trị văn hóa tự thân của Nhà nước.
Thể chế mạnh phải dựa trên nền tảng văn hóa chính trị vững chắc. Thể chế là khung và văn hóa là linh hồn quốc gia. Nếu người thực thi thể chế không có liêm sỉ xứng đáng, họ sẽ tìm mọi kẽ hở để "lách luật" mà trộm cắp, lãng phí, tiêu cực. Phải văn hóa hóa các quy định của Đảng và Nhà nước. Biến những điều cấm đoán lạnh lùng thành những chuẩn mực đạo đức trong các tư cách công dân, đảng viên hay cán bộ và bao trùm, xuyên suốt là nhân học.
Sự thất bại của nhiều mô hình thể chế trên thế giới cho thấy, họ thất bại vì nhập khẩu thể chế không tương thích với "tế bào văn hóa" bản địa. Đổi mới thể chế ở Việt Nam phải là một cuộc tiến hóa văn hóa. Chuyển từ tư duy quản lý văn hóa sang quản trị phát triển văn hóa. Xây dựng hành lang pháp lý minh bạch để khơi thông các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực xã hội hóa cho các sản phẩm và lĩnh vực văn hóa bằng nhân lực văn hóa ngang tầm. Thể chế là sức mạnh cứng (quyền lực pháp lý) thì văn hóa là sức mạnh mềm (quyền lực tinh thần). Nghĩa là, thể chế quản trị hành vi bên ngoài song hành với văn hóa chế ngự tâm thức bên trong. Thể chế phải là cái gậy để ngăn người xấu, nhưng văn hóa là ngọn đèn để dẫn lối và bảo vệ tính thiện của con người.
Để kiểm soát quyền lực, cần một sự hợp lực đa chiều. Ở đây, trong lộ trình dùng văn hóa để kiểm soát quyền lực, việc tách rời luật pháp và văn hóa là sự chia cắt phiến diện. Phép trị của luật pháp (cái uy của thể chế) phải là "bộ khung" cứng. Nếu luật pháp không phù hợp, văn hóa sẽ trở nên lý thuyết suông. Quyền lực và lợi ích kinh tế phải bị khuất phục trước lợi ích sinh tồn và phát triển của dân tộc trên nền tảng pháp luật và đạo lý. Luật pháp tạo ra ranh giới để con người không thể và không dám vi phạm một cách tự giác bằng liêm sỉ.
Do đó, cùng với các cơ chế giám sát bằng văn bản, cần xây dựng pháp đài đạo đức trong mỗi đảng viên, cán bộ. Và, cùng với xây dựng hệ thống chế tài nghiêm khắc để cái sai không thể tồn tại bằng nhốt quyền lực vào "lồng thể chế" mà còn phải phát triển sự tự trọng, lòng tự tôn của người đảng viên, cán bộ, tức pháp đài đạo đức.
Điều đáng sợ nhất không phải là sự xâm lăng văn hóa từ bên ngoài mà là sự xâm lăng văn hóa trong hệ thống. Đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của đảng viên, cán bộ, nguy cơ làm mục ruỗng từ bên trong. Khi một người có nền tảng văn hóa sâu dày sẽ biết biết đủ, biết dừng, biết sợ trước những cám dỗ.
Cần thiết nói, phải xây dựng một nền chính trị biết hổ thẹn, biết trọng danh dự và tôn vinh Quốc thể mang tầm văn hóa tối cao.