Nâng niu Việt Nam như "cõi riêng"
35 năm cầm máy, chụp từng góc phố, con người, với nhiếp ảnh gia người Mỹ Catherine Karnow, dải đất hình chữ S ngày càng xinh đẹp, ấn tượng. Từ mái ngói cổ kính của Hà Nội đến những bức tranh dân gian, tà áo dài… "Đó là điều ống kính của tôi luôn tìm kiếm, nâng niu như cõi riêng của mình".
Nơi chốn định mệnh
- Mối lương duyên với Việt Nam của bà đã bắt đầu như thế nào?
- Tôi đến Việt Nam lần đầu vào tháng 7/1990. Trước đó không lâu, cha mẹ tôi có chuyến công tác tại Việt Nam. Cha tôi là nhà báo, nhà sử học Stanley Karnow, tác giả bộ sách và phim tài liệu Vietnam: A History (tác phẩm được đánh giá là cái nhìn sâu sắc và toàn diện nhất về chiến tranh Việt Nam - PV). Ông đến Hà Nội để phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trở về, cha mẹ nói rằng tôi nên là người chụp ảnh cho những cuộc như thế. Lúc đó tôi 29 tuổi, cũng đã bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh nhưng không nghĩ có cơ duyên đủ chín trong nghề nghiệp để bước vào một nhiệm vụ quan trọng như vậy.

- Nhưng rồi bà đã gắn bó sâu sắc với Việt Nam suốt mấy chục năm qua. Điều ấy chắc hẳn không chỉ đến từ “nhiệm vụ” chụp ảnh?
- Tôi chụp ảnh Việt Nam nhưng chưa bao giờ định nghĩa mối quan hệ với mảnh đất này chỉ qua nhiếp ảnh. Nhiếp ảnh chỉ là một phần rất nhỏ, một khởi đầu quan trọng. Đúng là tôi trở lại nhiều lần để chụp ảnh nhưng ngày càng thấy Việt Nam sâu sắc, lớn lao hơn nhiều so với việc chụp ảnh của tôi. Tôi luôn có lòng tin bất cứ khi nào trở lại Việt Nam, sẽ tìm thấy những điều thú vị hơn, xúc động hơn, đánh động tâm hồn hơn, phấn khích hơn so với lần trước.
- Đã qua nhiều vùng đất, ghi lại hàng nghìn câu chuyện trên khắp thế giới, điều gì khiến trải nghiệm ở đây trở nên khác biệt đối với bà?
- Việt Nam là đất nước đặc biệt, nơi tôi thiết lập sợi dây kết nối bền chặt. 35 năm chụp ảnh Việt Nam cũng là thời gian tôi cảm nhận được tâm hồn thực sự của mình. Lần nào cũng vậy, mỗi con người, mỗi nơi chốn cho tôi cảm giác được chào đón, không bao giờ thấy mình lạc lõng. Việt Nam đem lại cho tôi những món quà và ngược lại, tôi cũng mong muốn mang cho Việt Nam món quà nào đó. Thông qua những bức ảnh, tôi muốn mọi người thấy vẻ đẹp đời thường mà đôi khi chính người Việt Nam cũng chưa chắc nhận ra vì họ đã sống trong ấy quá thường xuyên.

- Khi giới thiệu ảnh về Việt Nam, tiêu chí quan trọng nhất của bà là gì? Giá trị tư liệu lịch sử, câu chuyện con người hay cảm xúc nghệ thuật…?
- Không có yếu tố nào quan trọng nhất. Đầu tiên phải thuyết phục về bố cục, ánh sáng, thẩm mỹ, song để bức ảnh truyền tải được đến người xem phải có yếu tố cảm xúc, có câu chuyện. Như bức Nhà hát Lớn Hà Nội (1994) chứa đựng nhiều lớp lang lịch sử của Việt Nam. Kiến trúc Pháp là sự hiện diện của quá khứ thuộc địa; bên cạnh đó là dấu vết chiến tranh hằn trên thân hình người đàn ông mất một chân; thập niên 1990 hiện lên qua người đạp xích lô đang chờ khách; còn tương lai, qua bóng người phụ nữ trên chiếc xe máy vụt ngang khung hình.
Một bức khác chụp năm 1990, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và đi tìm chiếc xe điện cũ của Pháp. Tôi đặt chân máy ở trong một ngôi nhà để có thể nắm bắt tốt cảnh chiếc xe điện chạy qua. Mặc tôi chăm chú chụp ảnh, bác chủ nhà vẫn điềm nhiên ngồi đàn với phong thái thư thả. Tôi quay sang và bấm máy. Khoảnh khắc đó gợi cho tôi cảm giác về điều gì thật sâu lắng, những hoài niệm và tĩnh tại trong tâm hồn.
Với tôi, nhiếp ảnh là nghệ thuật chia sẻ cảm xúc, kết nối con người. Những bức ảnh không chỉ giữ gìn, ghi nhớ quá khứ mà còn tạo cảm hứng hướng đến tương lai tích cực, tươi mới. Tôi yêu những bức hình như thế. Một bức ảnh đẹp làm bạn muốn nhìn đi nhìn lại nhiều lần, thậm chí treo trên tường để ngắm thường xuyên.
Mảnh ghép đặc biệt trong tâm hồn
- Trong 35 năm trải nghiệm, ghi lại bước chuyển mình của xã hội Việt Nam, bà mong công chúng cảm nhận điều gì khi xem các tác phẩm?
- Tôi may mắn có cơ hội theo dõi sự thay đổi của Việt Nam trong thời gian dài và mong muốn khán giả thấy sự thay đổi ấy. Những bức ảnh trải từ đầu thập niên 1990 vẫn còn khá ảm đạm đến thời điểm đổi mới với nhiều niềm vui, hy vọng; những năm 2000 với sự năng động; giờ đây là sắc màu hiện đại… Tôi không chỉ muốn mọi người tiếp nhận yếu tố lịch sử, tư liệu mà quan trọng là xúc cảm trong từng bức ảnh.

- Chứng kiến Việt Nam từ những ngày còn "nguyên sơ", theo bà, sự hào nhoáng, hiện đại có làm lu mờ “chất Việt” mà bà từng say mê, lưu giữ trong các bức ảnh?
- Bước ra từ chiến tranh, Việt Nam vươn lên từng ngày. Tôi thấy hình ảnh đất nước hiện đại, đổi mới về kinh tế, hạ tầng giao thông, tuổi trẻ năng động, sáng tạo với phong cách sống thời thượng… Tuy nhiên, bên cạnh vẫn hiện lên vẻ đẹp của một đất nước đậm đà bản sắc, giàu truyền thống với những chứng tích không phôi pha. Tôi yêu mái ngói cổ kính của Hà Nội, yêu những bức tranh dân gian vẫn kiêu hãnh khoe sắc giữa những bức sơn dầu Tây phương, yêu tà áo dài… Đó là điều ống kính của tôi luôn tìm kiếm, nâng niu như cõi riêng của mình. Đó là điều tôi luôn quan tâm giới thiệu đến người khác về đất nước Việt Nam mà tôi biết. Đất nước có sự kết nối rất cá nhân đối với tôi, là hành trình trưởng thành của chính tôi trong đất nước và ngược lại là hành trình phát triển của đất nước trong cái nhìn của tôi.

- Bà nói Việt Nam là một “cõi riêng" không thể thay thế. Vậy dưới lăng kính của một người quan sát đời sống, con người Việt Nam trong chừng ấy năm, bà nhận thấy đâu là gene văn hóa tạo nên chân dung người Việt?
- Với tôi, sự độc đáo của người Việt Nam nằm ở sự cộng hưởng của những phẩm chất tưởng chừng đối lập. Tôi thấy ở người Việt Nam sự quyết liệt, chăm chỉ và khả năng hồi phục phi thường sau biến cố. Tình yêu quê hương của họ mạnh mẽ hơn mọi rào cản. Nhiều người con xa xứ, dù rời đi vì lý do gì, vẫn tìm đường quay về. Bên cạnh sự quyết liệt, người Việt còn có tâm hồn thi sĩ lãng mạn và hoài niệm.
Như bức ảnh Người đàn bà trên chuyến tàu Thống Nhất (1990), dáng ngồi bất động của người phụ nữ đối lập với vệt mờ của chuyến tàu đang lướt đi. Khung hình tạo nên khoảng lặng về sự nhập nhòe của thời gian và không gian. Việt Nam tồn tại trong chính đường biên ấy, giữa hoài niệm những gì đã qua và niềm hy vọng bền bỉ về những gì đang tới. Ở đất nước này, niềm vui và nỗi buồn, quá khứ và tương lai, sự hoài niệm và khát vọng đổi mới luôn song hành…
- Sau tất cả, bà thấy mình “nhận” được gì từ mảnh đất này?
- Tôi cảm thấy nơi đây là nhà của mình. Việt Nam cho tôi cảm giác thuộc về. Tôi tìm thấy một gia đình theo nghĩa lý tưởng nhất: một cộng đồng ủng hộ, bao dung và chấp nhận con người tôi. Cảm giác này tôi không tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác…
- Xin cảm ơn bà!