Nối dài dòng chảy di sản
Trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa, từng có lúc người ta lo ngại rằng những chiếu chèo, điệu tuồng bi hùng hay câu vọng cổ ngọt ngào... sẽ dần lùi vào dĩ vãng. Nhưng vẫn có cuộc chuyển mình đang diễn ra âm thầm mà mãnh liệt, đưa nghệ thuật truyền thống hồi sinh, hòa cùng nhịp đập thời đại.
Đối thoại, thích nghi với thời cuộc
Nghệ thuật truyền thống Việt Nam với bề dày lịch sử hàng nghìn năm vốn là tấm gương phản chiếu tâm hồn, khí phách và thẩm mỹ của dân tộc. Từ những chiếu chèo sân đình rộn rã, những vở tuồng bi hùng nơi cung đình, diễn xướng dân gian hay những câu vọng cổ, cải lương ngọt ngào… tạo nên diện mạo văn hóa độc bản. Tuy nhiên, hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là khi bước vào kinh tế thị trường và cơn bão công nghệ của thế kỷ XXI, sân khấu truyền thống đứng trước những thách thức sống còn. Nhịp điệu chậm rãi, tính ước lệ cao của nghệ thuật xưa trở nên lép vế trước sự bùng nổ của các loại hình giải trí trực quan hiện đại.

Làm thế nào để sân khấu truyền thống luôn sáng đèn? Câu hỏi ấy canh cánh trong lòng những người tâm huyết với di sản của ông cha. Để rồi “cái khó ló cái khôn”, một tư duy mới hình thành, quyết liệt, đưa nghệ thuật truyền thống lội ngược dòng, chủ động tìm kiếm khán giả thay vì ngồi chờ họ đến rạp. Nói như Giám đốc Nhà hát Tuổi Trẻ, NSƯT Nguyễn Sĩ Tiến: “Một vở diễn làm ra có hay đến mấy mà chỉ giới làm nghề biết với nhau thì không thể nói là thành công. Điều quan trọng nhất vẫn là làm sao để vở diễn đó tiếp cận đến khán giả, lôi kéo họ rời xa màn hình điện tử, đến với rạp hát”.
Cùng với chuyển biến trong tư duy quản lý, coi văn hóa là nguồn lực nội sinh, “sức mạnh mềm” để phát triển bền vững, sân khấu truyền thống được thổi vào hơi thở mới không chỉ đến từ chính sách mà từ sự vận động của các đơn vị nghệ thuật, nghệ sĩ. Họ không chỉ lặng lẽ quan sát thời đại mà còn trăn trở tìm cách phá tảng băng để đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng. Tảng băng ngăn cách ấy chính là lối tư duy khuôn mẫu, đóng đinh vở diễn trong những quan niệm nghệ thuật hẹp hòi, là suy nghĩ “bắc nước chờ gạo người” - trông chờ vào Nhà nước hay niềm tiếc thương của khán giả…
Theo NSND Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, minh chứng rõ nét nhất cho hướng đi mới là sự cởi mở, kết hợp liên ngành táo bạo. Thời gian qua, đánh dấu sự hợp tác thành công giữa Nhà hát Sân khấu truyền thống Quốc gia Việt Nam và Liên đoàn Xiếc Việt Nam, với các tác phẩm Cây gậy thần, Thượng Thiên Thánh Mẫu, Trần Nhân Tông…, phá vỡ sự đơn điệu, thu hút được cả đối tượng khán giả của xiếc và cải lương… Chưa kể, việc đầu tư đưa công nghệ hiện đại vào biểu diễn cũng được coi là bước phát triển tất yếu trong bối cảnh công chúng ngày càng đòi hỏi trải nghiệm phong phú và mới lạ.
“Những công nghệ như AR/VR, hologram, hay 3D mapping khi được ứng dụng hợp lý sẽ không chỉ làm đẹp thêm cho vở diễn, mà còn tạo ra một chiều không gian mới cho cảm xúc và trí tưởng tượng của khán giả. Công nghệ không thay thế cảm xúc, nhưng sẽ giúp cảm xúc được khuếch đại, lan tỏa mạnh mẽ hơn và đó là điều mà bất kỳ nghệ sĩ nào cũng mong muốn”, NSND Tống Toàn Thắng nói.
Trước đây, sân khấu truyền thống gắn liền với không gian nhà hát, rạp diễn với khoảng cách rõ rệt giữa nghệ sĩ và người xem, thì nay, biên giới đó đang bị xóa nhòa. Việc mở rộng không gian trình diễn đưa nghệ thuật trở về với không gian cộng đồng. Như tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, các nhà hát “xuống đường” tìm khán giả. Nhiều trích đoạn chèo, hát bội, cải lương… diễn ra ngay tại phố đi bộ, đường sách, trở thành “đặc sản” văn hóa thu hút du khách trong và ngoài nước. Cùng với đó, sự kết hợp giữa di tích kiến trúc và nghệ thuật biểu diễn tạo ra hiệu quả cộng hưởng ấn tượng. Trong không gian linh thiêng, cổ kính, tiếng trống chầu, điệu múa truyền thống… trở nên sống động, kết nối sâu sắc với người xem.
Truyền cảm hứng, giữ gìn và tiếp nối
Nhìn về hành trình đầy vinh hoa nhưng cũng lắm thăng trầm của sân khấu truyền thống, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, NSND Trịnh Thúy Mùi có niềm tin di sản sẽ luôn được giữ gìn, tiếp nối, dù đứng trước vô vàn thách thức của thời đại. Bởi lẽ, sân khấu truyền thống được kết tinh, lắng đọng từ “chất vàng mười” của ông cha. Tinh hoa sân khấu truyền thống là giá trị được ấp ủ bởi các lớp nghệ sĩ luôn tâm huyết thổ tận can tràng… Theo NSND Trịnh Thúy Mùi, thời đại mới có quá nhiều yếu tố bất lợi nhưng cũng tạo thêm được những điểm mới, cơ hội mới cho sân khấu truyền thống phát triển.
Để phát triển nghệ thuật sân khấu truyền thống có hai hướng đi bắt buộc song hành. NSND Trịnh Thúy Mùi phân tích, hướng thứ nhất là giữ giá trị “khuôn vàng thước ngọc” được đúc kết từ bao đời nay; hướng thứ hai quan trọng không kém là phải sáng tạo trên nền di sản, bắc nhịp cầu dẫn dắt thế hệ trẻ quay về với hồn cốt truyền thống dân tộc. Bên cạnh cung cách làm mới phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và nguyên tắc của mỗi loại hình nghệ thuật, mỗi nghệ sĩ, đơn vị nghệ thuật hiện nay còn phải xác định thêm vai trò truyền thông, lan tỏa để đông đảo khán giả, nhất là người trẻ đến với sân khấu truyền thống. “Chúng ta đang có gần 200 đơn vị nghệ thuật, mỗi đơn vị đang lưu giữ ít nhất 1 - 3 vở chất lượng đỉnh cao. Vậy phải làm thế nào để các vở diễn được biết đến nhiều hơn”, NSND Trịnh Thúy Mùi nói.
Trên thực tế, nhiều nhà hát lập fanpage, cập nhật và chia sẻ thường xuyên các chương trình biểu diễn, bài viết phân tích nghệ thuật biểu diễn của từng loại hình, nhấn nhá nét đẹp trong các vai diễn… Nhờ đó, khán giả, đặc biệt là thế hệ trẻ quan tâm nhiều hơn tới nghệ thuật truyền thống. Chuỗi hoạt động mang tính giáo dục, trải nghiệm đã giúp người trẻ “chạm”, cảm nhận sâu sắc tinh thần nghệ thuật và chiều sâu truyền thống. Để rồi, chính họ lại tiếp tục là người truyền cảm hứng, nối dài dòng chảy di sản…
Như dự án Trường Ca Kịch Viện được duy trì bền bỉ từ năm 2020 đến nay, bởi một nhóm bạn trẻ với tình yêu di sản, đã xây dựng “bảo tàng trực tuyến” về nghệ thuật sân khấu. Nhóm sử dụng infographic, motion graphics (đồ họa chuyển động), ngôn ngữ thiết kế hiện đại để giải mã tuồng, chèo, cải lương... Kiến thức hàn lâm được biên dịch sang ngôn ngữ hình ảnh bắt mắt, phù hợp với thị hiếu của giới trẻ. Dự án chứng minh rằng công nghệ không làm xa rời truyền thống, trái lại, là cầu nối hiệu quả đưa người trẻ trở về với cội nguồn.
Hay dự án Chèo 48h - Tôi chèo về quê hương đều đặn đến với sinh viên, học sinh mấy năm qua. Họ sử dụng kênh ngôn ngữ của thế hệ mình - TikTok, YouTube, clip ngắn… để kể câu chuyện của chèo, của xẩm, biến những điều tưởng chừng xưa cũ trở nên gần gũi và hấp dẫn. Chủ nhiệm dự án Nguyễn Hoàng Hiệp chia sẻ nhiệt huyết, niềm tin bấy lâu được neo giữ bởi những giá trị vô hình mà mãnh liệt: “Có một thời, người ta coi nghệ thuật truyền thống là thứ dân gian xưa cũ, cho rằng thời gian qua đi sẽ không còn nữa. Nhưng giống như dòng sông chảy qua nhiều địa hình thác ghềnh, thu lượm lượng phù sa để đến một vùng đất nào đó tạo ra các bãi bồi, bãi bồi đó chính là truyền thống, trong đó có văn hóa nghệ thuật dân gian. Điều mà Chèo 48h đang làm, chúng tôi tin rằng có cơ sở, rằng những người trẻ chúng tôi đang đi vào những bãi bồi chứ không đơn thuần chạy theo trào lưu”…