Kinh tế

Huy động nguồn lực cho chuyển dịch năng lượng

Vũ Quang 30/01/2026 07:45

Nhu cầu vốn cho ngành năng lượng Việt Nam đến năm 2050 có thể lên tới khoảng 400 tỷ USD. Đầu tư nguồn điện chủ yếu dựa vào khu vực tư nhân và thị trường vốn, còn lưới điện truyền tải vẫn cần vai trò chủ đạo của đầu tư công. Chuyển đổi năng lượng vì thế không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà trước hết là bài toán tài chính quy mô hàng trăm tỷ USD.

Nghị quyết 253 mở “đường băng” thể chế cho đầu tư năng lượng

Tham dự Diễn đàn “Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030” do Báo Công thương tổ chức ngày 29/1, các đại biểu cho rằng, Nghị quyết 253/2025/QH15 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách để phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 đã cơ bản hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực này.

z7480155985389_aac49fab5a0b4c5e13c8be25a93153d2.jpg
Các diễn giả tại phiên thảo luận. Ảnh: Vũ Quang

Theo ông Trần Hoài Trang, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết rất toàn diện, bao trùm đầy đủ các lĩnh vực trụ cột của hệ thống năng lượng quốc gia, từ nguồn điện, lưới truyền tải và phân phối, cơ chế mua bán điện trực tiếp cho tới dầu khí, than và đặc biệt là phát triển điện gió ngoài khơi - loại hình năng lượng mới lần đầu tiên được triển khai bài bản tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng tạo ra cơ chế linh hoạt, kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai quy hoạch. Việc cho phép điều chỉnh, cập nhật quy hoạch mà không làm thay đổi mục tiêu, định hướng lớn hay tổng công suất theo cơ cấu nguồn điện được đánh giá là bước tiến đáng chú ý, giúp tháo gỡ các điểm nghẽn về tiến độ, đồng bộ nguồn và lưới, điều chỉnh các dự án chậm triển khai, đồng thời tăng tính chủ động trong quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương, kỷ luật quy hoạch và kiểm soát thẩm quyền.

Theo TS. Nguyễn Hồng Minh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, Nghị quyết 253 đã mở ra một khuôn khổ thể chế mới, trong đó nhiều thủ tục đầu tư được cắt giảm đáng kể. Đây là yếu tố then chốt giúp việc đầu tư vào nguồn điện, lưới điện và các hạ tầng năng lượng khác trở nên thuận lợi hơn.

Đồng tình với quan điểm trên, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, với tinh thần của Nghị quyết 253, việc sửa đổi các bộ luật liên quan có thể được triển khai. Trong thời gian chờ các luật được sửa đổi, Chính phủ dự kiến ban hành một nghị quyết để cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết 253. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ nhiều vướng mắc đang tồn tại ở các dự án hiện nay, đồng thời hạn chế việc lặp lại những ách tắc tương tự trong thời gian tới.

Áp lực vốn đầu tư rất lớn

Hành lang pháp lý được hoàn thiện là bước đi quan trọng, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa cơ chế thành nguồn lực cụ thể. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tăng cao, vấn đề then chốt đặt ra là làm thế nào để huy động và dẫn dắt các dòng vốn đầu tư cho chuyển dịch năng lượng.

z7480155958630_ecbc9e0b7caa6bc5905ec466eba7665a.jpg
Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: Vũ Quang

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, nhu cầu phát triển năng lượng của Việt Nam trong các thập kỷ tới sẽ tiếp tục tăng mạnh, song hành với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Dự báo cho thấy, nhu cầu điện giai đoạn 2021 - 2025 tăng khoảng 8%/năm; giai đoạn 2026 - 2030 tăng 10 - 12%/năm; và giai đoạn 2030 - 2035 duy trì ở mức 7 - 7,5%/năm.

Đà tăng này đặt ra yêu cầu rất lớn về đầu tư hạ tầng năng lượng, đặc biệt là phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và các giải pháp phục vụ chuyển đổi năng lượng theo hướng bền vững. Riêng giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn đầu tư cho lĩnh vực năng lượng của Việt Nam ước trên 77 tỷ USD, tương đương hơn 15 tỷ USD mỗi năm. Tính chung từ nay đến năm 2050, tổng nhu cầu vốn đầu tư cho năng lượng vào khoảng 400 tỷ USD, bình quân khoảng 16 tỷ USD/năm.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, TS. Cấn Văn Lực cho biết, việc huy động nguồn vốn cho phát triển và chuyển đổi năng lượng tại nhiều quốc gia thường dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa khu vực Nhà nước, khu vực tư nhân và các cơ chế thị trường. Trong đó, ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung đầu tư cho lưới điện, nghiên cứu và phát triển, hạ tầng chiến lược, nhằm đóng vai trò dẫn dắt và bảo đảm an ninh năng lượng. Trung Quốc với hệ thống lưới điện siêu cao áp, hay Liên minh châu Âu thông qua mạng lưới TEN-E, là những ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này.

Trong khi đó, khu vực tư nhân và dòng vốn FDI thường chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư nguồn điện, đặc biệt ở các dự án năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ. Song song với đó, tài chính xanh, như trái phiếu xanh và tín dụng xanh, đang được nhiều quốc gia thúc đẩy nhờ lợi thế về chi phí vốn và các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội, quản trị) ngày càng chặt chẽ, tiêu biểu là Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Indonesia.

Phân tích thực trạng tài chính năng lượng Việt Nam, TS. Cấn Văn Lực cho biết, từ năm 2001 đến nay, đầu tư tư nhân và FDI chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư ngành năng lượng, chủ yếu tập trung vào các dự án phát triển nguồn điện. Phần còn lại là đầu tư công, chủ yếu dành cho lưới điện truyền tải, hạ tầng chiến lược và các dự án liên quan đến an ninh năng lượng, cùng một số nguồn tài chính quốc tế.

z7480155966323_8c40b56419849eef58bc0ae2900dd03f.jpg
Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: Vũ Quang

Trong những năm gần đây, tín dụng xanh cho lĩnh vực năng lượng tái tạo tăng trưởng mạnh, với tốc độ bình quân khoảng 150%/năm giai đoạn 2017 - tháng 6/2025, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của tín dụng xanh. Tính đến tháng 6/2025, tín dụng năng lượng tái tạo đạt gần 290 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 1,7% tổng dư nợ toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, cho thuê tài chính trong lĩnh vực này vẫn còn rất hạn chế.

Trên thị trường chứng khoán, chỉ số cổ phiếu ngành năng lượng năm 2025 tăng 1,2%, nhưng nếu tính từ đáy tháng 4/2025 đến cuối năm, mức tăng lên tới hơn 37%. Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp năng lượng gặp nhiều khó khăn, với giá trị phát hành giảm mạnh từ năm 2022.

Về nguồn vốn quốc tế, Việt Nam đã tiếp cận một số cơ chế quan trọng như Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) với quy mô 15,5 tỷ USD, cùng các quỹ chuyển dịch năng lượng khu vực. Tuy nhiên, việc triển khai các dự án cụ thể vẫn cần thêm thời gian, năng lực hấp thụ vốn và sự phối hợp đồng bộ về chính sách.

Vũ Quang