Ngân hàng chính sách xã hội:Nơi gắn kết nghị trường và cuộc sống
Giảm nghèo bền vững luôn được Đảng, Nhà nước xác định là chủ trương lớn, xuyên suốt trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Chủ trương ấy được cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, hướng tới phát triển bao trùm, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong hành trình ấy, Quốc hội giữ vai trò kiến tạo thể chế, quyết định nguồn lực và giám sát tối cao; Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) là thiết chế tài chính đặc thù được Chính phủ giao phó nhằm đưa các chủ trương của Đảng, quyết sách của Quốc hội về giảm nghèo vào đời sống...
Từ mục tiêu xuyên suốt
Ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập - cũng là lúc chúng ta phải đối mặt với hơn 90% dân số bị mù chữ và nạn đói hoành hành. Vì vậy, cùng với sự ra đời của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Người đã xác định mục tiêu “làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành” là ưu tiên chiến lược.
Sau bao nỗ lực, đến năm 1993 Việt Nam mới công bố tiêu chí nghèo quốc gia đơn chiều quy theo lương thực. Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 20kg gạo/tháng đối với thành thị, dưới 15kg gạo/tháng đối với khu vực nông thôn; hộ đói là hộ có bình quân thu nhập đầu dưới 13kg gạo/tháng đối với thành thị, dưới 8kg gạo/tháng đối với khu vực nông thôn. Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội tại Kỳ họp thứ Tư, Quốc hội Khóa IX, ngày 7/12/1993, với chuẩn nghèo này thì tỷ lệ hộ nghèo của nước ta là 58,1%.

Tại Báo cáo giám sát chuyên đề số 616/BC-ĐGS ngày 13/5/2024 của Quốc hội đã nhận định: “Chính sách tín dụng qua NHCSXH được thực hiện với kết quả cao, là điểm sáng trong các chính sách được quy định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15. Chính sách này đã “đúng” và “trúng” với nhu cầu, nguyện vọng của người dân”.
17 năm sau ngày công bố tiêu chí nghèo quốc gia, Việt Nam đã về đích sớm trong việc thực hiện mục tiêu đầu tiên về xóa nghèo trong 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc với việc giảm tỷ lệ người nghèo trong dân cư từ 58,1% năm 1993 xuống còn 9,45% năm 2010, trở thành điểm sáng của thế giới về giảm nghèo. Giai đoạn này cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của Ngân hàng phục vụ Người nghèo (năm 1995) - tiền thân của NHCSXH ngày nay. Kể từ đó, người nghèo có một kênh tài chính ưu đãi riêng, luôn luôn đồng hành với bà con trên mọi mặt trận.
Bước sang giai đoạn 2011 - 2020, Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, coi nghèo không chỉ là thiếu gạo, mà còn thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản. Tỷ lệ nghèo giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 4,8% (năm 2020). Nhiều địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số bắt đầu chuyển từ “trợ cấp” sang “trao cơ hội” thông qua hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, tín dụng ưu đãi.
Đặc biệt giai đoạn 2021 - 2025, khi đất nước đối mặt với dịch Covid-19, thiên tai và biến đổi khí hậu nhưng vẫn duy trì kết quả giảm nghèo bền vững. Tính đến tháng 6/2025 tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc đã giảm xuống còn khoảng 1,93%. Đối với các huyện nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 45% xuống còn 24,86%, còn tại khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ này đã hạ từ 25% xuống chỉ còn 12,55%. Điểm nổi bật của giảm nghèo giai đoạn này là chuyển từ “cho con cá” sang “cho cần câu”; giảm nghèo gắn liền với đổi mới mô hình tăng trưởng, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Nhà nước không chỉ trợ cấp mà còn khuyến khích khởi nghiệp nông thôn, phát triển Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”, mở rộng đào tạo nghề, tạo việc làm xanh...
Đến những quyết sách chưa có tiền lệ
Cùng với Đảng, Chính phủ, Quốc hội luôn theo sát từng bước chân của người nghèo, cử tri trên chặng đường giảm nghèo và phát triển. Bằng việc ban hành các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020; hay các nghị quyết về chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi... Quốc hội đã xác định rõ mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, cơ chế tổ chức thực hiện và yêu cầu giám sát chặt chẽ hiệu quả các chính sách.

Như trên đã nói, giai đoạn 2020 - 2025, đại dịch Covid-19 và thiên tai diễn biến phức tạp, thường xuyên, trên diện rộng đã ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội toàn thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ… Để giúp người dân mau chóng phục hồi sản xuất, kinh doanh, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/1/2022 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Triển khai Nghị quyết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách cho vay ưu đãi qua NHCSXH, chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay tại NHCSXH theo quy định tại Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ. Kết quả, đến 31/12/2023, NHCSXH đã giải ngân các chính sách tín dụng ưu đãi thuộc Chương trình với dư nợ đạt 38.400 tỷ đồng, có trên 615,6 nghìn lượt khách hàng được vay vốn, đạt 100% tổng quy mô chính sách được Quốc hội quyết nghị và thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay theo quy định tại Nghị định số 36/2022/NĐ-CP đạt kết quả cao, kịp thời hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn sau đại dịch Covid-19, hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 111/2024/QH15 ngày 18/01/2024 về một số chính sách đặc thù thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, tạo chế độ thuận lợi cho các địa phương trong bố trí nguồn vốn từ đầu tư công, vốn đầu tư phát triển khác và kinh phí thường xuyên... để tăng cường nguồn vốn ủy thác qua NHCSXH.
Nghị quyết số 111/2024/QH15 gồm 8 nội dung cơ bản về phân bổ, giao dự toán chi thường xuyên ngân sách trung ương hàng năm; điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, điều chỉnh kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước hằng năm; đặc biệt trong đó có nội dung về ủy thác vốn của ngân sách địa phương qua hệ thống NHCSXH... Đây là một trong những giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và thúc đẩy thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.
Lan tỏa mạnh mẽ mạch đập chính sách
Trên cơ sở các nghị quyết của Quốc hội, quyết định của Chính phủ, NHCSXH đã triển khai đồng bộ nhiều chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung vào các nhóm yếu thế như hộ nghèo, hộ cận nghèo, HSSV có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào DTTS... Mạng lưới hoạt động được tổ chức đến tận thôn bản, giúp người dân tiếp cận vốn thuận lợi hơn, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của Nhà nước.
Điểm đặc thù của tín dụng chính sách không chỉ nằm ở mức lãi suất ưu đãi, mà còn ở cách thức tổ chức thực hiện. Việc gắn hoạt động cho vay với chính quyền cơ sở và các tổ chức chính trị - xã hội đã tạo nên cơ chế phối hợp chặt chẽ, bảo đảm công khai, minh bạch và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Nhờ đó, dòng vốn chính sách được sử dụng đúng mục đích, đến đúng đối tượng, hạn chế rủi ro và thất thoát. Quan trọng hơn, tín dụng chính sách đã góp phần thay đổi cách tiếp cận trong giảm nghèo. Khi người dân được vay vốn để chăn nuôi, trồng trọt, phát triển ngành nghề hoặc tạo việc làm, họ không chỉ có thêm thu nhập, mà còn hình thành ý thức chủ động, trách nhiệm trong sử dụng vốn.
Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa giảm nghèo mang tính hỗ trợ và giảm nghèo dựa trên sinh kế - nền tảng của sự bền vững.
Thực tiễn cho thấy, giảm nghèo chỉ thực sự bền vững khi người nghèo trở thành chủ thể của quá trình phát triển, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách. Tín dụng chính sách, với cách tiếp cận “trao cần câu” thay vì “cho con cá”, đã góp phần thúc đẩy sự chuyển biến này. Khi có vốn, có hướng dẫn và có sự đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội, nhiều hộ nghèo đã từng bước vươn lên, ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững.
Đây cũng là những vấn đề mà ở bất cứ một kỳ họp hay trong cả nhiệm kỳ các Đại biểu Quốc hội cũng như Đại biểu Hội đồng Nhân dân đặc biệt quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách. Khi chúng ta có một chủ trương, đường lối xuyên suốt trong giảm nghèo; khi Quốc hội giữ vững vai trò kiến tạo thể chế, quyết định nguồn lực và giám sát tối cao; khi NHCSXH tiếp tục phát huy vai trò là công cụ tài chính đặc thù của Nhà nước, thì mục tiêu giảm nghèo bền vững mới có nền tảng vững chắc để hiện thực hóa.