Giải pháp cốt lõi để phục hồi, phát triển đất bền vững
Hơn 33 triệu ha đất tự nhiên của cả nước, hầu như không còn “tấc đất nào” không chịu trước sức ép ô nhiễm và suy thoái. Trong bối cảnh đó, từ góc nhìn của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, phục hồi và phát triển đất bền vững không thể chỉ trông chờ vào những biện pháp xử lý cục bộ mà phải dựa trên chính sách và công nghệ.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã có bước tiến quan trọng khi có Mục 3, Chương II về bảo vệ môi trường đất, trong đó xác định rõ: Mọi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất đều có trách nhiệm bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường đất nếu gây ô nhiễm.
Từ nền tảng pháp lý này, tại Tọa đàm “Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất – Thực trạng và giải pháp” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cho rằng, đây là một bước tiến, cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc định giá tài sản về bảo vệ môi trường, đặc biệt là tài sản bảo vệ môi trường đất.

Ưu tiên kiểm soát, phòng ngừa nguồn thải
Ô nhiễm đất có nguồn gốc rất đa dạng, từ rác thải sinh hoạt, đặc biệt là nhựa, thủy tinh; nước thải, khí thải công nghiệp; hóa chất trong nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật); đến phá rừng, xây dựng thủy điện, bê tông hóa đô thị làm suy giảm khả năng thấm nước, giữ phù sa, gây sạt lở và suy thoái đất. Những dòng thải rắn – lỏng – khí này nếu không được kiểm soát chặt từ đầu, cuối cùng đều sẽ “hội tụ” vào đất.
Bởi vậy, theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, nhiệm vụ hàng đầu của đội ngũ làm nông nghiệp, môi trường là xác định các nguồn gây ô nhiễm và kiểm soát phòng ngừa, thay vì chỉ tập trung xử lý hậu quả.
Những yêu cầu này phù hợp với tinh thần của Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các nghị định hướng dẫn, khi quy định các dự án, khu sản xuất, cụm công nghiệp, làng nghề phải có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu lên môi trường đất, không được làm suy giảm chất lượng và khả năng sử dụng đất theo mục đích được giao.
Chính sách và công nghệ - “cánh tay nối dài” của chính sách
Từ phân tích của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, để chính sách không chỉ dừng trên giấy thì công nghệ chính là “cánh tay nối dài” không thể thiếu.
PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cho biết, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng hệ thống quan trắc tự động, trực tuyến tại các khu công nghiệp, làng nghề; kết hợp dữ liệu quan trắc với bản đồ số, ảnh vệ tinh để nhận diện sớm “điểm nóng” ô nhiễm đất; từng bước công khai dữ liệu để cộng đồng cùng giám sát. Khi thông tin được đo đếm, cập nhật và chia sẻ, việc xác định ô nhiễm, áp dụng công cụ kinh tế và bố trí nguồn lực phục hồi sẽ chính xác và minh bạch hơn.
.jpg)
Bên cạnh khung chính sách và công nghệ giám sát, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ nhấn mạnh tới hướng đi nhiều tiềm năng đó là tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất Biochar (than sinh học). Thay vì đốt rơm rạ, vỏ cà phê, phụ phẩm sau thu hoạch vốn gây ô nhiễm không khí và góp phần làm suy thoái đất có thể chuyển sang công nghệ sản xuất Biochar, vừa tạo vật liệu cải tạo đất, vừa tạo tín chỉ carbon chất lượng cao.
Thực tế, nhiều nghiên cứu và dự án cho thấy, tín chỉ carbon từ Biochar đang được giao dịch với mức giá cao hơn nhiều so với tín chỉ thông thường; có giao dịch quốc tế đạt mức 180–220 USD/tấn đối với một số dự án sử dụng phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam.
Biochar khi bón vào đất giúp tăng độ tơi xốp, cải thiện khả năng giữ nước, hấp phụ và giảm độc tính của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng. Nếu được triển khai theo mô hình kinh tế tuần hoàn, nông dân cung cấp phụ phẩm, doanh nghiệp đầu tư công nghệ, cùng chia sẻ lợi ích từ Biochar và tín chỉ Carbon.
Nhìn tổng thể, không thể phục hồi và phát triển đất bền vững nếu tách rời chính sách và công nghệ. Chính sách phải đủ mạnh để định giá đúng tài sản môi trường, buộc người gây ô nhiễm phải trả giá, ưu tiên phòng ngừa hơn xử lý. Công nghệ phải đủ hiện đại để đo đếm, giám sát, khoanh vùng, khôi phục đất một cách khoa học, hiệu quả và minh bạch.