Phát triển con giống, hiện đại hóa hạ tầng đưa ngành thủy sản bứt phá
Giai đoạn 2026 - 2030, nuôi trồng thủy sản đặt trọng tâm phát triển con giống chất lượng cao, hiện đại hóa hạ tầng vùng sản xuất tập trung; ứng dụng công nghệ lọc tuần hoàn, giám sát môi trường tự động và chuyển đổi số. Đây là những giải pháp then chốt giúp nâng cao năng suất, tăng sức cạnh tranh và tạo nền tảng vững chắc để ngành thủy sản bứt phá.
Sản xuất giống chuyển mạnh sang quy mô công nghiệp
Từ năm 2024 đến nay, ngành nuôi trồng thủy sản đối mặt nhiều khó khăn do giá vật tư và chi phí logistics cao, nhu cầu tiêu thụ chững lại, quy mô sản xuất thu hẹp. Hạn hán, xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long, ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa và bão lụt gây thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi trồng. Bên cạnh đó, “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu, tiêu chuẩn nhập khẩu khắt khe và diễn biến áp thuế của Mỹ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng sản xuất và cung ứng con giống.

Tuy nhiên, nhờ chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng, sự vào cuộc đồng bộ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng nỗ lực của địa phương và doanh nghiệp, ngành thủy sản vẫn đạt kết quả đáng ghi nhận.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, sản lượng nuôi trồng năm 2025 ước đạt ước đạt 5,9 triệu tấn, tăng 3,92% so với năm 2024; sản lượng con giống đạt 392,5 tỷ con, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu toàn ngành ước trên 11 tỷ USD.
Đóng góp quan trọng là các chương trình nghiên cứu, chọn tạo giống quy mô lớn. Từ năm 2010, ngân sách nhà nước đã đầu tư gần 900 tỷ đồng cho 271 nhiệm vụ khoa học, công nghệ, tập trung chọn tạo giống tăng trưởng nhanh, kháng bệnh. Nhiều kết quả nổi bật: cá tra G5 tăng trưởng nhanh hơn 15,4% so với G4; sản xuất tôm sú G7, tôm chân trắng G8-9; làm chủ công nghệ sản xuất giống 23 loài cá biển giá trị cao, nhuyễn thể tam bội, tứ bội. Năm 2025, sản xuất khoảng 6 triệu con cá nước lạnh, đáp ứng trên 40% nhu cầu cá tầm giống trong nước.
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cho biết, sản xuất giống đang chuyển mạnh sang quy mô công nghiệp với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và FDI; các cơ sở nhỏ lẻ, kém hiệu quả dần bị thu hẹp. Phần lớn cơ sở sản xuất chấp hành nghiêm quy định, sử dụng giống bố mẹ rõ nguồn gốc, kiểm soát môi trường, dịch bệnh, gắn kết lợi ích với người nuôi. Công tác cung ứng giống ngày càng chuyên nghiệp, liên kết với vùng nuôi; nhiều đối tượng nuôi chủ lực cơ bản làm chủ công nghệ, đáp ứng yêu cầu số lượng và chất lượng cho nuôi trồng và xuất khẩu.
Ưu tiên nguồn lực để phát triển giống thủy sản
Giai đoạn 2026 - 2030, nuôi trồng thủy sản tiếp tục đối mặt khó khăn do chiến tranh thương mại, xung đột địa chính trị làm tăng chi phí vật tư, xăng dầu; biến đổi khí hậu khắc nghiệt với nắng nóng, hạn hán, xâm nhập mặn, bão lũ, gia tăng rủi ro dịch bệnh. Thêm vào đó, cạnh tranh giá từ các nước sản xuất lớn như Ấn Độ, Ecuador, Trung Quốc, Thái Lan tác động đến sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra.
Theo Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021 - 2030, mục tiêu đến năm 2030 đạt tổng sản lượng nuôi trồng 7 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng giá trị bình quân trên 4,5%/năm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, phát triển giống thủy sản được xác định là khâu then chốt.
Để đạt mục tiêu đề ra, từ thực tiễn địa phương, tỉnh Ninh Bình cho biết sẽ tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh việc củng cố phát triển chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng giống nhuyễn thể; ứng dụng công nghệ khoa học mới để phát triển chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ ngao trên địa bàn tỉnh phù hợp với yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh, đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Thời gian tới, Ninh Bình đề xuất các bộ, ngành tiếp tục quan tâm, hỗ trợ tỉnh trong việc thu hút, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất giống; đầu tư xây dựng cơ sở vùng sản xuất giống nhuyễn thể tập trung. Đồng thời, hỗ trợ địa phương trong việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, nhất là công nghệ sản xuất giống nhuyễn thể (vẹm xanh, sò huyết); tăng cường cung cấp thông tin dự báo cho cơ quan địa phương về giá cả, thị trường, diễn biến thời tiết… để kịp thời khuyến cáo người nuôi chủ động trong sản xuất.
Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút các tổ chức tài chính, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, cá nhân tham gia đầu tư vào sản xuất giống thủy sản, đặc biệt là đầu tư vào nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng sản xuất giống nhuyễn thể.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Tuyên Quang cũng kiến nghị, sớm có các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn Việt Nam, Định mức kinh tế - kỹ thuật sản xuất giống cá đặc sản, nuôi cá lồng bè trên sông, hồ. Quan tâm đầu tư dự án cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất giống thủy sản của tỉnh thành cơ sở sản xuất giống cá đặc sản.
Ngoài ra, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất giống, công nghệ nuôi thương phẩm các loài cá đặc sản cho tỉnh Tuyên Quang; lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ đàn cá bố mẹ thuần chủng, các loài đặc sản cho các cơ sở sản xuất giống thủy sản của tỉnh.
Đặc biệt, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực làm công tác quản lý thủy sản sau sáp nhập tỉnh, nhất là cán bộ kỹ thuật của các cơ sở sản xuất giống thủy sản; hỗ trợ thực hiện các mô hình ương nuôi giống thủy sản đặc sản.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến yêu cầu các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ giải pháp phát triển giống thủy sản. Cục Thủy sản và Kiểm ngư tăng cường tham mưu chính sách, kiểm soát chất lượng giống, nghiên cứu chọn tạo giống chất lượng cao; Cục Chăn nuôi và Thú y siết chặt kiểm dịch, phòng chống dịch bệnh, phát triển vaccine.
Các đơn vị liên quan ưu tiên nguồn lực cho nghiên cứu, đầu tư hạ tầng vùng sản xuất giống tập trung; địa phương tăng cường quản lý nguồn gốc, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện, thúc đẩy liên kết chuỗi, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh.