Kỷ nguyên y học chính xác và cá thể hóa: Đột phá nâng cao sức khỏe con người
Y tế và chăm sóc sức khỏe toàn cầu đang chứng kiến những bước tiến vượt bậc nhờ sự kết hợp của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn và thiết bị y tế thông minh. Theo báo cáo của Precedence, thị trường y học chính xác toàn cầu dự kiến sẽ đạt 175 tỷ USD vào năm 2030, mở ra kỷ nguyên y học chính xác và cá thể hóa.
Những đột phá này không chỉ nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị, mà còn mở ra triển vọng cải thiện tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống và tái định hình hệ thống y tế toàn cầu.
Nhằm thúc đẩy đối thoại, trao đổi học thuật và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trọng yếu này, sáng ngày 3/12, Quỹ VinFuture tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Bước tiến trong Phát hiện, Chẩn đoán và Điều trị Bệnh”.
Tọa đàm đã hội tụ những nghiên cứu tiến bộ nổi bật trong việc ứng dụng công nghệ vào y học và chăm sóc sức khỏe, bao gồm y học chính xác, dược phẩm thế hệ mới, các giải pháp kỹ thuật số trong quản lý và theo dõi bệnh tật, cũng như công nghệ hỗ trợ điều trị cá thể hóa của các diễn giả như:
Sự kiện kỳ vọng sẽ trở thành diễn đàn kết nối các nhà khoa học, chuyên gia y tế, doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách, cùng chia sẻ tầm nhìn, thúc đẩy hợp tác và kiến tạo những giải pháp đột phá nhằm nâng cao sức khỏe con người trong kỷ nguyên số.

Ngành y tế bị áp lực vì ác bệnh truyền nhiễm mới nổi
Phát biểu tại Tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và đào tạo, Bộ Y tế cho biết, năm 2025 đánh dấu 1 thời điểm đầy biến động của y tế toàn cầu. Nhân loại tiếp tục đối mặt với những gánh nặng sức khoẻ toàn cầu ngày càng gia tăng và phức tạp. Trong đó tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm như ung thư, tiểu đường, tim mạch tiếp tục gia tăng mạnh tại nhiều khu vực.
Các bệnh truyền nhiễm mới nổi gây áp lực lên hệ thống y tế, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh. Tình trạng kháng kháng sinh đang tiến dần đến mức báo động, đe doạ đảo ngươc nhiều thành tựu y học trong nhiều thế kỷ vừa qua.
Sự chênh lệch về tiếp cận dịch vụ y tế giữa các quốc gia và nhóm dân cư ngày càng rõ rệt, tạo ra các yêu cầu cấp thiết về đổi mới sáng tạo để tạo ra các giải pháp y tế chính xác hiệu quả và bền vững hơn.
Tuy nhiên, song hành với những thách thức là những cơ hội chưa từng có từ những sự bùng nổ của công nghệ số, của trí tuệ nhân tạo, của công nghệ gen và vật liệu sinh học trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Ông Quang cho rằng, từ những liệu pháp thực khuẩn thể để đối phó với kháng thuốc, đến ứng dụng công nghệ in 3D trong phẫu thuật, các đột phá mới trong thính giác hay các xu hướng công nghệ vi sinh tiên tiến. Tất cả đều là những nghiên cứu trọng điểm nằm trong chiến lược về công nghệ mà ngành y tế Việt Nam đã và đang ưu tiên tiếp cận và ứng dụng. Với sự tham gia của rất nhiều các nhà khoa học danh tiếng ở trên thế giới là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng của VinFuture trong việc kết nối tri thức xuyên biên giới, thúc đẩy khoa học phục vụ nhân loại.
Bộ Y tế Việt Nam xác định khoa học công nghệ là động lực then chốt để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường năng lực của hệ thống y tế.
Trong 5 năm vừa qua, giải thưởng Vinfuture đã tạo nên những giá trị hết sức to lớn, tôn vinh các nghiên cứu đột phá truyền Cảm Ứng cho cộng đồng khoa học và đặc biệt mở ra cơ hội hợp tác quốc tế thiết thực cho Việt Nam”.
Những nghiên cứu mới nhất trong điều trị bệnh từ công nghệ
Tại sự kiện, GS. Ana Belén Elgoyhen, Đại học Buenos Aires, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia (Argentina), chuyên nghiên cứu vào di truyền học, sinh lý học và bệnh học liên quan đến thính giác ở cấp độ hệ thống và khớp thần kinh, các cơ chế gây mất thính lực do tiếng ồn và các cơ chế sinh lý bệnh dẫn đến chứng ù tai đã chia sẻ về “Các chiến lược điều trị mới cho mất thính lực: Một kỷ nguyên đầy hứa hẹn”.

GS. Ana Belen Elgoyhen cho biết, mất thính lực hiện là tình trạng phổ biến nhất toàn cầu, ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng sống, cơ hội giáo dục, khả năng hòa nhập, đồng thời làm tăng nguy cơ suy giảm nhận thức và rối loạn sức khỏe tâm thần. WHO thống kê hơn 1,5 tỷ người đang mắc một mức độ mất thính lực. Con số này có thể đạt 2,5 tỷ vào năm 2050 nếu không can thiệp hiệu quả, chi phí toàn cầu hằng năm có thể vượt 980 tỷ USD, đặc biệt nặng nề với các nước thu nhập thấp – trung bình.
Theo GS, nguyên nhân đến từ yếu tố di truyền, sinh học, hành vi và môi trường. Trong di truyền, 1/500 trẻ bị mất thính lực bẩm sinh, hơn 50% do gen, còn lại do nhiễm trùng hoặc nguyên nhân khác. Khoảng 30% thuộc dạng hội chứng và 70% không hội chứng; phần lớn do gen lặn, khoảng 15% là gen trội. Đã xác định hơn 150 gen gây điếc khi đột biến, ước tính có thể lên tới 300 gen liên quan.
Các biện pháp điều trị hiện nay là: Máy trợ thính cho mất thính lực nhẹ–trung bình, giúp khuếch đại âm thanh; Cấy điện cực ốc tai – bước tiến lớn cho người điếc sâu, nhưng vẫn hạn chế trong tiếp nhận ngôn ngữ và nghe nhạc.
Liệu pháp gene đang mở ra hướng đột phá, đặc biệt với gen OTOF, vốn mã hóa protein Otoferlin – yếu tố then chốt trong truyền tín hiệu từ tai trong đến dây thần kinh thính giác. Đột biến OTOF gây điếc bẩm sinh. Theo đó, việc đưa bản sao gen khỏe mạnh vào tai trong bằng vector virus đã giúp phục hồi thính lực ở một số thử nghiệm.
Tuy nhiên, GS. Ana Belen Elgoyhen cho hay, liệu pháp gene mới thành công với một gen (OTOF), trong khi hàng trăm gen khác cũng có thể gây mất thính lực. Nhiều thách thức khoa học vẫn cần được giải quyết để mở rộng điều trị trong tương lai.
.jpg)
GS. Pascale Cossart, FRS, Viện Pasteur Paris (Pháp) là một nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực vi sinh vật học tế bào, nổi tiếng với những nghiên cứu đột phá về cách vi khuẩn xâm nhập và tồn tại trong tế bào vật chủ đã đề cập đến vấn đề cuộc chiến chống kháng sinh và đưa ra phương án “Liệu pháp khuẩn thể như 1 giải pháp tiềm năng”.
Theo GS. Pascale Cossart, kháng kháng sinh hiện là một trong những mối đe dọa sức khỏe toàn cầu lớn nhất, với 1,91 triệu ca tử vong mỗi năm, tăng 70% ở người trên 70 tuổi, và ngày càng gia tăng ở trẻ nhỏ. Năm 2019, kháng sinh liên quan đến 4,95 triệu ca tử vong, trong đó 1,26 triệu ca là tử vong trực tiếp do nhiễm khuẩn kháng thuốc. Nếu không có biện pháp kiểm soát, đến 2050, siêu vi khuẩn có thể gây hàng triệu ca tử vong mỗi năm, vượt qua cả ung thư.
GS. Pascale Cossart cho rằng, với sự phát triển của công nghệ sinh học – tương tự như cách tùy chỉnh liệu pháp tế bào CAR-T trong ung thư – liệu pháp khuẩn thể đang nổi lên như một công cụ đầy hứa hẹn trong cuộc chiến chống vi khuẩn kháng thuốc và có tiềm năng được áp dụng rộng rãi trong tương lai gần.

Nói về Virus chống ung thư “Triển vọng đột phá của liệu pháp thực khuẩn thể”, GS. Chuanbin Mao, Đại học Trung văn Hồng Kông (Trung Quốc), Giám đốc tại Phòng thí nghiệm Jockey STEM về Kỹ thuật Y học Chính xác từ thiên nhiên cho biết, thực khuẩn thể (phage) là virus chuyên tấn công vi khuẩn, có cấu trúc siêu phân tử gồm vật chất di truyền (DNA hoặc RNA) và lớp vỏ protein. Với sự phát triển của công nghệ sinh học, phage ngày nay không chỉ được nghiên cứu trong điều trị nhiễm khuẩn mà còn mở ra nhiều ứng dụng tiềm năng trong điều trị ung thư.
Công nghệ hiện đại cho phép thay đổi hoặc điều chỉnh các gen mã hóa protein/peptide trên bề mặt phage, biến chúng thành phương tiện vận chuyển thông minh, có khả năng nhắm tới các tế bào hoặc mô đích một cách chính xác.
GS. Chuanbin Mao cho hay ưu điểm của liệu pháp phage là chi phí thấp vì phage có khả năng tự nhân lên; hiệu quả tái lập cao, nhờ được nhân bản trong vi khuẩn. Đồng thời, dễ dàng tùy chỉnh, có thể điều chỉnh hoặc biến đổi gen để tạo phage mới. Đặc biệt, an toàn, thân thiện với cơ thể và không gây hại cho người.

Tại sự kiện, GS. Trần Trung Dũng, Hệ thống Y tế Vinmec (Việt Nam), Chủ tịch Hiệp hội Công nghệ 3D trong Y học Việt Nam đã chia sẻ về “Công nghệ in 3D tại bệnh viện: Một bước đột phá trong phẫu thuật chỉnh hình”.
Ông kể rằng: "Cách đây 6 năm, chúng tôi gặp một ca ung thư xương rất phức tạp, khi khối u xâm lấn chỏm xương đùi và xương chậu. Khi đó, bệnh nhân phải in khớp háng và khung chậu 3D từ nước ngoài để cấy ghép, nhưng sản phẩm không phù hợp dẫn đến phải mổ lại.
Để giải quyết bài toán này, năm 2024 Trung tâm Công nghệ 3D trong Y học tại Trường Đại học VinUni được thành lập. Nhờ đó, nhiều bệnh nhân ung thư xương, đặc biệt ở vùng ổ chậu và khớp háng, đã được hỗ trợ bằng các thiết kế và vật liệu in 3D ngay trong nước. Chúng tôi có thể đo đạc chính xác, tạo hình xương mới và in 3D để cấy ghép, mang lại kết quả phù hợp hơn với cấu trúc từng bệnh nhân.
Không chỉ xương khớp lớn, mà xương ức, xương hàm và nhiều cấu trúc phức tạp khác cũng có thể được tái tạo bằng công nghệ in 3D. Đây là cơ hội lớn cho bác sĩ và kỹ thuật viên trong tương lai để đưa ra các giải pháp toàn diện cho bệnh nhân mắc các bệnh lý về xương".
Về chi phí, GS. Trần Trung Dũng cho hay, in 3D hiện vẫn khá cao. Chúng tôi đang tìm cách giảm chi phí thông qua việc xây dựng mạng lưới hợp tác với nhiều bệnh viện và bác sĩ, cho phép in đồng thời nhiều dụng cụ hoặc chi tiết, từ đó hạ giá thành cho bệnh nhân.
Chuỗi Toạ đàm “Khoa học vì cuộc sống” trong khuôn khổ tuần lễ Trao giải thưởng VinFuture 2025, một trong những giải thưởng khoa học toàn cầu có sức lan toả mạnh mẽ tôn vinh những đóng góp đột phá nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống con người.
Sự hiện diện đông đảo của nhà khoa học xuất sắc từ nhiều quốc gia khẳng định sự phát triển bền vững của cộng đồng khoa học toàn cầu ngày càng đóng vai trò quan trọng, và vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trên bản đồ nghiên cứu khoa học quốc tế.