Diễn đàn Quốc hội

Bình dân học vụ số - Quốc hội số: Nền tảng học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ Quốc hội

Đào Cảnh 29/08/2025 11:50

Sau hơn 5 tháng phát động, phong trào “Bình dân học vụ số” đang lan tỏa sâu rộng trong toàn quốc. Quốc hội cũng đã và đang khởi động phong trào “Bình dân học vụ số - Quốc hội số” với với khát vọng phổ cập tri thức số đến đại biểu và đội ngũ cán bộ Quốc hội. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải nhấn mạnh, đội ngũ cán bộ Quốc hội phải tiên phong, trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng số, trở thành nền tảng cho học tập suốt đời để đáp ứng tốt hơn kỳ vọng của Nhân dân.

“May đo” chương trình đào tạo kỹ năng số

- Thưa ông, ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của việc phổ cập công nghệ số đến các đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan của Quốc hội?

- Trước tiên, tôi xin khẳng định, việc phổ cập công nghệ số trong Quốc hội là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Ngày 18/11/2024, khi chỉ đạo, phát động phong trào “Bình dân học vụ số”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhắc lại bài học từ phong trào xóa mù chữ sau Cách mạng Tháng Tám và yêu cầu “mỗi người dân, không kể tuổi tác, địa vị hay trình độ, ai thiếu hụt kiến thức, kỹ năng về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thì đều có trách nhiệm phải học tập để bù đắp”. Như vậy, việc đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng số cho đại biểu Quốc hội, cán bộ trong hệ thống Quốc hội là bắt buộc. Khi Đảng xác định chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu, Quốc hội phải tiên phong trang bị kiến thức, kỹ năng số cho đội ngũ của mình. Điều này bảo đảm mỗi đại biểu, cán bộ làm chủ công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng kỳ vọng của Nhân dân về một Quốc hội hiện đại, luôn bắt nhịp với thời đại số.

pho-chu-nhiem-uy-ban-khoa-hoc-cong-nghe-va-moi-truong-tran-van-khai-1-.jpg
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải phát biểu tại cuộc họp với các cơ quan nhằm triển khai Kế hoạch số 39-KH/ĐUQH của Đảng ủy Quốc hội về phong trào “Bình dân học vụ số - Quốc hội số”. Ảnh: Hồ Long

- Hiện nay, phong trào “Bình dân học vụ số” tại Quốc hội đã và đang được triển khai như thế nào, thưa ông?

- Trong 5 tháng qua, phong trào đã được triển khai rất quyết liệt với lộ trình rõ ràng. Đến ngày 7/7/2025, Đảng ủy Quốc hội đã ban hành Kế hoạch 39-KH/ĐUQH về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số - Quốc hội số” trong các Đảng bộ trực thuộc và các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy Quốc hội và ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Quốc hội, làm cơ sở để phong trào được tổ chức thực hiện bài bản hơn. Ngay sau đó, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã chủ trì phối hợp, khảo sát toàn diện trình độ kỹ năng số tại các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn ĐBQH trên cả nước. Trên cơ sở kết quả này, chúng tôi đã xây dựng bộ tài liệu huấn luyện phù hợp với đặc thù từng đơn vị, từ khung kỹ năng số đến giáo án, bài giảng); đồng thời, đưa vào vận hành nền tảng học tập trực tuyến riêng của Quốc hội, tích hợp định danh VNeID để đại biểu, cán bộ có thể học mọi lúc mọi nơi một cách thuận tiện, an toàn.

Đến nay, chương trình tập huấn đang từng bước triển khai tới tất cả đại biểu, công chức. Theo kế hoạch, cuối năm 2025 tối thiểu 40% đội ngũ đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức, viên chức của Quốc hội sẽ hoàn thành khóa tập huấn và được cấp chứng chỉ; đến cuối năm 2026 đạt 100%.

toan-canh.jpg
Hội thảo “Góp ý khung kiến thức, kỹ năng số và giáo án phục vụ công tác đào tạo cho phong trào “Bình dân học vụ số - Quốc hội số”. Ảnh: Hồ Long

- Thưa ông, để phổ cập kỹ năng số cho người dân, Chính phủ nhiều nước đã áp dụng các mô hình đào tạo cụ thể cho từng đối tượng. Với Quốc hội Việt Nam, mô hình hay cách làm hay nào đang được áp dụng trong việc số hóa kiến thức và kỹ năng cho các đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan của Quốc hội?

- Quốc hội áp dụng mô hình huấn luyện kỹ năng số được “may đo” riêng cho từng nhóm cán bộ, đại biểu. Trọng tâm là xây dựng Khung kiến thức, kỹ năng số dành cho Quốc hội với cấu trúc 4 cấp độ, gồm: cơ bản, trung cấp, nâng cao, chuyên sâu và theo từng nhiệm vụ, bảo đảm đúng người, đúng nhu cầu.

Trên cơ sở khung chuẩn này, chương trình tập huấn được thiết kế linh hoạt qua một nền tảng học trực tuyến dành riêng cho Quốc hội do Văn phòng Quốc hội triển khai. Nền tảng học tập này kết nối liên thông với nền tảng “Bình dân học vụ số” quốc gia và tích hợp định danh VNeID để theo dõi, xác nhận kết quả học tập.

Mô hình đào tạo chú trọng tính thực tiễn: “dạy cái gần, học cái cần”, tập trung những kỹ năng sát với công việc của mỗi đối tượng để học xong có thể áp dụng được ngay. Cách làm này tạo nên một hệ sinh thái học tập số hiện đại, nội dung cá thể hóa theo từng vị trí, giúp đại biểu và cán bộ hứng thú học tập và nhanh chóng nâng cao năng lực số.

“Bình dân học vụ số - Quốc hội số” đóng góp trực tiếp vào việc hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu và nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố con người.

Hưởng ứng tinh thần đó, phong trào tập trung phổ cập kiến thức, kỹ năng số cho toàn bộ đại biểu và cán bộ Quốc hội - trực tiếp phát triển nguồn nhân lực số chất lượng, tạo nên tư duy số và văn hóa số trong cơ quan lập pháp. Qua đó, Quốc hội thể hiện vai trò tiên phong chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, góp phần cùng Chính phủ xây dựng thành công Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số như mục tiêu Đảng đề ra.

Việc 100% đại biểu, cán bộ Quốc hội dự kiến đạt chuẩn kỹ năng số vào năm 2026 sẽ là minh chứng rõ nét cho quyết tâm chính trị thực hiện chuyển đổi số, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong toàn xã hội.

Khơi dậy tinh thần tự học trong mỗi cán bộ, công chức, viên chức

- Trong quá trình triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" trong hệ thống Quốc hội, đâu là khó khăn lớn nhất, thưa ông?

- Khó khăn lớn nhất là sự chênh lệch về kỹ năng và nhận thức số, cùng hạn chế về thời gian và hạ tầng. Trình độ hiểu biết công nghệ số của đại biểu, cán bộ không đồng đều, có nhiều người còn e ngại công nghệ, trong khi nhiều người đã thành thạo cơ bản.

Để khắc phục, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã khảo sát thực trạng tại từng cơ quan, đơn vị; đồng thời, thiết kế nội dung huấn luyện “đúng vai, sát việc”, phân chia 4 mức độ học phù hợp với nhu cầu mỗi nhóm đối tượng. Bên cạnh đó, quỹ thời gian của đại biểu rất hạn hẹp, nên phương pháp học được đổi mới linh hoạt qua nền tảng số. Mỗi bài giảng được chia nhỏ dưới 5 phút để ai cũng có thể tranh thủ học mọi lúc, mọi nơi.

Việc xây dựng hạ tầng học trực tuyến dùng chung cho hàng nghìn người học, tích hợp định danh VNeID cũng là thách thức, nhưng đã được nỗ lực triển khai thành công, bảo đảm an toàn, thuận tiện. Quan trọng nhất, phong trào đã dần thay đổi nhận thức, khơi dậy tinh thần tự học hỏi về công nghệ trong tất cả cán bộ, công chức của Quốc hội, để không ai đứng ngoài tiến trình chuyển đổi số.

toan-canh-1-.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan chủ trì cuộc họp với các cơ quan nhằm triển khai Kế hoạch số 39-KH/ĐUQH của Đảng ủy Quốc hội về phong trào “Bình dân học vụ số - Quốc hội số”. Ảnh: Hồ Long

- Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường có kế hoạch đo lường và đánh giá hiệu quả của phong trào này trong dài hạn như thế nào, thưa ông?

- Chúng tôi đề ra kế hoạch đo lường, đánh giá hiệu quả phong trào một cách khoa học, minh bạch và dài hạn. Mỗi học viên sau khóa học đều phải thực hiện bài kiểm tra cuối khóa; kết quả được ghi nhận trên hệ thống và cấp chứng nhận qua ứng dụng VNeID, bảo đảm đánh giá thực chất, khách quan, tránh hình thức.

Chúng tôi đặt chỉ tiêu cụ thể cho từng giai đoạn: đến cuối năm 2025 có ít nhất 40%, cuối 2026 đạt 100% đại biểu, cán bộ Quốc hội được chứng nhận đạt chuẩn kỹ năng số cơ bản. Toàn bộ dữ liệu học tập, sát hạch được lưu trữ tập trung, giúp theo dõi tiến bộ kỹ năng số của từng cá nhân về lâu dài.

Song song đó, Ủy ban thiết lập cơ chế phản hồi liên tục: học viên có thể góp ý ngay trên nền tảng để kịp thời cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo. Phong trào sẽ được sơ kết vào cuối 2025, tổng kết vào cuối 2026 và báo cáo kết quả lên Đảng ủy Quốc hội, cũng như Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trung ương, làm cơ sở định hướng cho giai đoạn tiếp theo.

- Có thể thấy, Quốc hội đang triển khai phong trào với những cách làm rất bài bản, sáng tạo, sát thực tế. Xin ông chia sẻ thêm về kế hoạch để duy trì tính bền vững của phong trào?

- Chúng tôi đặc biệt chú trọng tính bền vững để tránh tình trạng “đánh trống bỏ dùi” sau phát động. Phong trào được xác định không chỉ trong 2 năm 2025 -2026 mà sẽ trở thành nền tảng học tập suốt đời cho đội ngũ cán bộ Quốc hội.

Kế hoạch 39-KH/ĐUQH của Đảng ủy Quốc hội cũng yêu cầu sau giai đoạn cao điểm phải tổng kết, đánh giá kết quả và tiếp tục duy trì, cập nhật chương trình huấn luyện trong những năm sau 2026. Để bảo đảm điều đó, chúng tôi đã đầu tư xây dựng hạ tầng học tập số bền vững: toàn bộ khung kỹ năng, giáo trình, nền tảng trực tuyến được lưu giữ và sẽ liên tục cập nhật bổ sung khi có công nghệ, kiến thức mới. Quan trọng hơn, phong trào đã khơi dậy tinh thần ham học hỏi, hình thành văn hóa tự học trong Quốc hội - mọi người coi việc trau dồi kỹ năng số là nhiệm vụ tự nhiên, liên tục như nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Chính điều này sẽ giữ cho phong trào luôn “sống” và phát triển bền vững, không rơi vào tình trạng đầu voi đuôi chuột. Đúng như yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm là mọi người dân “Đề cao tinh thần tự học và sự linh hoạt trong phương pháp học tập suốt đời: mọi người có thể học mọi lúc, mọi nơi, học trực tiếp, học trực tuyến; tự học ở nhà, tại nơi làm việc, thậm chí trên tàu hỏa, máy bay, ô-tô… để nâng cao kỹ năng số của bản thân”.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Để phong trào “Bình dân học vụ số” triển khai hiệu quả hơn, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho rằng, cần đưa tiêu chuẩn kỹ năng số vào bộ tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức - xem đây là năng lực bắt buộc trong thời đại số. Điều này sẽ tạo động lực để mỗi cá nhân tự học và rèn luyện, và để mỗi cơ quan chú trọng hơn đến việc đào tạo kỹ năng số cho cán bộ. Tiếp đó, cần bảo đảm nguồn tài chính dài hạn cho hạ tầng và nội dung đào tạo số; đồng thời có chính sách khuyến khích phát triển các nền tảng học tập số cho đội ngũ cán bộ trong cơ quan nhà nước. Việc triển khai phong trào cần được phối hợp đồng bộ với các chương trình chuyển đổi số quốc gia và Đề án chuyển đổi số của Quốc hội để tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực. Cuối cùng, chúng tôi đề nghị có cơ chế khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong phong trào, qua đó lan tỏa mạnh mẽ tinh thần học tập suốt đời và đổi mới sáng tạo.

Đào Cảnh