Cân nhắc quy định quản lý, bảo vệ “công trình khác ở khu vực biên giới”

Đoàn Phúc Thịnh 01/11/2020 10:26

Tại khoản 2 Điều 5 dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam (sau đây gọi là dự thảo Luật) sắp trình Quốc hội biểu quyết, thông qua tại Kỳ họp thứ Mười quy định: “Quản lý, bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới quốc gia; xây dựng, quản lý, bảo vệ hệ thống mốc quốc giới, dấu hiệu đường biên giới, công trình biên giới, cửa khẩu, công trình khác ở khu vực biên giới” là một trong những “Nhiệm vụ biên phòng”. Để bảo đảm tính khả thi khi luật này có hiệu lực, đề nghị cân nhắc, làm rõ hơn về nhiệm vụ Biên phòng trong xây dựng, quản lý, bảo vệ “công trình khác ở khu vực biên giới”.

Các chiến sĩ Biên phòng, Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh (Gia Lai) tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc
Các chiến sĩ Biên phòng, Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh (Gia Lai) tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc

Khoản 6 Điều 3 Luật Biên giới quốc gia năm 2003 quy định: Công trình biên giới là công trình được xây dựng để cố định đường biên giới quốc gia, công trình phục vụ việc quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia”. Theo Luật này thì việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là nhiệm vụ của Nhà nước và của toàn dân, trước hết là của chính quyền, nhân dân khu vực biên giới và các lực lượng vũ trang nhân dân. Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật. Do đó, việc quy định tại Điều 5 dự thảo Luật về nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ công trình biên giới, cửa khẩu là hoàn tờ cần thiết, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và bảo đảm tính khả thi. 

Tuy nhiên, nội hàm của cụm từ “công trình khác ở khu vực biên giới” chưa rõ và chưa cụ thể. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa giải thích cụ thể khái niệm “Công trình”! Cụm từ này được dùng trong rất nhiều văn bản pháp luật nhưng đều gắn với các trường hợp cụ thể, ví dụ: tại Luật Quy hoạch năm 2017 sử dụng 07 cụm từ “Công trình” với ý nghĩa khác nhau, như: Công trình cấp điện, công trình viễn thông, công trình hạ tầng xã hội, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình quốc phòng; Luật Xây dựng năm 2014 dùng rất nhiều cụm từ này nhưng với ý nghĩa cũng không giống nhau, như: Công trình quy mô nhỏ, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình chính, công trình của dự án… Theo khoản 10, Điều 3 Luật này chỉ giải thích cụm từ “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác” và theo điểm c khoản 1 Luật sửa đổi một số điều của Luật Xây dựng năm 2020 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2021) giải thích: Công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước”

Như vậy, theo phân tích trên cho thấy, nếu dự thảo Luật quy định việc xây dựng, quản lý, bảo vệ “công trình khác ở khu vực biên giới” là một nhiệm vụ biên phòng cần cân nhắc, vì nội hàm của khái niệm “Công trình” rất rộng, liên quan đến trách nhiệm xây dựng, quản lý, bảo vệ của nhiều cơ quan, tổ chức, công dân và cả cá nhân người nước ngoài (nhất là đối với các công trình thuộc sở hữu của người, tổ chức nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam) hoặc lấy một ví dụ là công trình thuộc sở hữu của công dân Việt Nam thì trước hết việc xây dựng hay không và lựa chọn thời điểm xây dựng, mô hình hoặc thiết kế, vật liệu sử dụng thế nào... là do họ tự quyết định. Nhà nước chỉ can thiệp khi công trình đó phải có giấy phép xây dựng được cấp có thẩm quyền cấp (nếu cần), đồng thời việc quản lý, bảo vệ công trình cũng thuộc tránh nhiệm của chính họ. Các lực lượng chức năng chỉ có trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực, như: thanh tra, kiểm tra quá trình xây dựng, về phòng cháy, chữa cháy… Do đó, các cơ quan nhà nước, tổ chức khác đứng chân trong nội địa hoặc ở khu vực biên giới không thể ôm đồm làm thay việc, trách nhiệm không phải của mình khi quy định việc xây dựng, quản lý, bảo vệ “công trình khác ở khu vực biên giới” là một nhiệm vụ biên phòng. Mặt khác, quy định này cũng không cụ thể, rõ ràng, không bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và càng không có tính khả thi… trong khi đây là những nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Đoàn Phúc Thịnh