Nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong gạo cực kỳ thấp
Trước phát biểu: “90% người Việt Nam đang ăn “gạo bẩn”, có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cao” của một doanh nghiệp kinh doanh gạo, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN - PTNT) Hoàng Trung cho rằng, đây là nhận xét không có căn cứ. Hiện các loại thuốc phòng trừ bệnh có thời gian cách ly dài nhất cũng chỉ 7 ngày, trong trường hợp nông dân phải phun thuốc thuốc bảo vệ thực vật muộn thì nguy cơ rủi ro có tồn dư vượt ngưỡng cho phép trong gạo cũng vô cùng thấp.
“Có vùng 10 năm không dùng đến thuốc bảo vệ thực vật”
Theo ông Hoàng Trung, mặt hàng gạo được Bộ Y tế, Bộ NN - PTNT ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng, cũng như các yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm (có quy định về mức tồn dư tối đa cho phép (MRL) đối với các hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật tồn dư). Trong 5 năm qua, nước ta đã có đề án về IPM (quản lý dịch hại tổng hợp) về sản xuất nói chung, trong đó đặc biệt quan tâm tới cây lúa bởi đây là cây trồng trọng điểm quốc gia về bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu. Đây là những “hàng rào” nhằm bảo đảm các yêu cầu chung về dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật đối với mặt hàng gạo.
Đặc biệt, tại các tỉnh sản xuất lúa trọng điểm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, những năm qua ngành nông nghiệp cũng như các địa phương, nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đã rất tích cực triển khai các chương trình sản xuất bền vững, an toàn, hiệu quả, tiết kiệm, sử dụng khoa học và hạn chế tối đa việc lạm dụng sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên cây lúa như chương trình “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, sản xuất theo SRI (hệ thống canh tác lúa cải tiến)… Đây cũng là nội dung chính mà dự án VnSat, một dự án rất lớn do Bộ NN - PTNT triển khai dành cho sản xuất lúa, đã được triển khai có hiệu quả rất tốt tại 21 tỉnh thành phía Nam trong các năm gần đây nhằm cải thiện chất lượng sản xuất gạo, an toàn và bền vững.
Cùng với đó, người dân rất tuân thủ các chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh của cơ quan nhà nước. Họ cũng tìm hiểu kỹ xem loại thuốc nào vừa an toàn cho sức khỏe, vừa diệt trừ đúng đối tượng dịch hại, chứ không phải phun không kiểm soát. Nhiều doanh nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long còn mạnh dạn ký kết với nông dân sản xuất theo cánh đồng lớn theo mô hình GAP. “Có những vùng 10 năm qua không dùng đến thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ cỏ trên lúa mà sử dụng các biện pháp hữu cơ”, ông Hoàng Trung nhấn mạnh.
Ông Hoàng Trung khẳng định, gạo là mặt hàng có nguy cơ rủi ro về an toàn thực phẩm rất thấp. Tại các tỉnh phía Nam, giai đoạn cần phun thuốc bảo vệ thực vật trên lúa thường là giai đoạn gần cuối để trừ bệnh đạo ôn cổ bông và bệnh lem lép hạt. Để đạt hiệu quả, muộn nhất cũng phải phun trước thu hoạch 20 - 25 ngày. Các tỉnh phía Bắc và Trung Bộ rất ít khi phải phun thuốc vào giai đoạn muộn, thường lúa mới chỉ “chắc xanh đến đỏ đuôi” sẽ phun thuốc để trừ rầy lứa 6, lứa 7. Tính ra, muộn nhất là còn khoảng 15 - 20 ngày từ lúc phun đến lúc gặt lúa, vì vậy nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên gạo rất thấp.
Đây là những nền tảng hết sức quan trọng để sản xuất lúa của Việt Nam tự tin bảo đảm được các yêu cầu về chất lượng, bảo đảm các điều kiện theo quy định về an toàn thực phẩm. Do vậy, những nhận định cảm tính, chưa dựa trên cơ sở khoa học sẽ làm tổn hại đến uy tín hạt gạo Việt, những nỗ lực của ngành nông nghiệp, các doanh nghiệp và nông dân đã xây dựng trong nhiều năm qua.
Gạo không đạt VietGAP, GlobalGAP không phải là gạo bẩn
Để đánh giá mức độ an toàn của gạo, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Nguyễn Như Tiệp cho biết, Bộ NN - PTNT thường xuyên giám sát và lấy mẫu trên diện rộng. Cục đã tiến hành lấy mẫu gạo ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và một địa phương lân cận, ở các vùng sinh thái khác nhau. Năm 2017 lấy 150 mẫu gạo, năm 2018 lấy 169 mẫu và đều không phát hiện mẫu nào có chất cấm, một số mẫu có tồn dư nhưng dưới ngưỡng cho phép. Ngưỡng cho phép ở Việt Nam được thiết lập trên cơ sở của Tiêu chuẩn của Codex nên sản phẩm xuất khẩu và tiêu dùng ở Việt Nam đều có tiêu chuẩn như nhau.
Ông Tiệp cũng khẳng định, ở Việt Nam không có vùng sản xuất gạo dành riêng cho xuất khẩu mà chung cả phần để ăn và xuất khẩu. Cũng có một số loại gạo sản xuất theo quy trình VietGAP hay GlobalGAP với số lượng vài chục nghìn tấn. Vấn đề quan trọng nhất, đó là dù sản xuất theo quy trình nào, thì nước nhập khẩu gạo Việt Nam đều giám sát dư lượng hóa chất để bảo đảm an toàn. “Chỉ những lô hàng không đáp ứng về dư lượng hóa chất mới bị trả về, chứ không có lô hàng nào bị trả về do không có chứng nhận GAP”, ông Tiệp khẳng định.
Giữa gạo sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP với gạo sản xuất truyền thống không khác nhau về mặt an toàn, chỉ khác về chất lượng nên giá khác nhau. Tuy nhiên, cùng với phát triển gạo VietGAP, GlobalGAP…, theo ông Tiệp, sản xuất truyền thống vẫn phải bảo đảm an toàn để đáp ứng tốt từng phân khúc của thị trường. Và cũng phải khẳng định rằng, gạo không đạt VietGAP, GlobalGAP không phải là “gạo bẩn” như cách hiểu của một số người.
Thực tế, 8 tháng qua, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu từ 6,5 - 6,7 triệu tấn gạo, trong đó số lượng lô gạo xuất khẩu bị các nước nhập khẩu có phản hồi cảnh báo cũng ở mức rất thấp. Cụ thể từ năm 2018 đến nay, mỗi năm chỉ có 1 lô gạo xuất khẩu bị EU cảnh báo, chiếm tỷ lệ vô cùng nhỏ so với hàng nghìn lô gạo xuất khẩu mỗi năm. Nếu gạo Việt không khẳng định được chất lượng, bảo đảm được các yếu tố an toàn thực phẩm, chắc chắn không có được kết quả ấn tượng như vậy.