Quy định rõ hơn yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh

ThS. Đoàn Phúc Thịnh - Phó Vụ trưởng, Vụ Quốc phòng và An ninh 09/04/2020 07:20

Theo chương trình, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Chín tới. Qua nghiên cứu cho thấy, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 chỉ có 3 cụm từ “quốc phòng, an ninh”, đến Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có 10 cụm từ này. Tuy nhiên, các quy định này đã đầy đủ, rõ ràng, dễ thực hiện chưa, hay cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung?

Truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc ta trong suốt tiến trình lịch sử nay được biểu hiện tập trung trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiệm vụ đó được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó quan điểm về bảo đảm quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 2013 (Điều 68), và từng bước được thể chế hóa trong xây dựng chính sách, pháp luật về các lĩnh vực, trong đó có pháp luật về quốc phòng, an ninh (Khoản 4, Điều 3, Luật Quốc phòng năm 2018; Khoản 3, Điều 5, Luật An ninh quốc gia năm 2004...).

Tuy nhiên, lĩnh vực quốc phòng, an ninh rất rộng, đan xen, tác động đến hầu hết lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội. Thực tế, các đạo luật thường có những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến quốc phòng, an ninh, nhưng chủ yếu dừng ở những nguyên tắc chung nên khó thực hiện, thiếu tính thống nhất, hiệu quả chưa cao(1). Một số báo cáo, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gần đây đã nêu rõ những tồn tại, hạn chế trong kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ví dụ trong Báo cáo số 220/BC-UBTVQH14, ngày 20.11.2017 của UBTVQH về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với cá nhân, tổ chức khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016 nêu rõ: “Quy định về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu cụ thể, chưa quy định rõ lĩnh vực, nội dung, phương thức kết hợp, phần lớn chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung”.

Thực tiễn cho thấy, việc đánh giá tác động chính sách về quốc phòng, an ninh trong các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội chưa được xem xét thấu đáo và đầy đủ, trong đó chưa xác định được tiêu chí đánh giá cụ thể về yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, phần lớn chỉ đánh giá định tính, thiếu định lượng, tính dự báo. Khoản 5, Điều 5, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới chỉ quy định chung có tính nguyên tắc là văn bản quy phạm pháp luật khi xây dựng và ban hành phải “bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh” mà chưa cụ thể hóa nguyên tắc này trong các khâu của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, ngày càng thấy rõ hơn sự cần thiết về vai trò đặc biệt quan trọng của sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế - xã hội, và kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, với mục tiêu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc nhằm thực hiện phương châm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã có một số điều riêng giao cho một số Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm thẩm tra đối với tất cả dự án luật, pháp lệnh về bảo đảm những nội dung nhất định, như: Về tính thống nhất trong hệ thống pháp luật giao Ủy ban Pháp luật (Điều 68), hoặc về vấn đề bình đẳng giới giao Ủy ban Về các vấn đề xã hội (Điều 69). Do đó, để cụ thể hóa nguyên tắc trên và với tính chất rất quan trọng của nội dung “bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh” trong thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn, đề nghị nghiên cứu theo hướng: Bổ sung vào Điều 65 (nội dung thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết) một khoản quy định về “yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Bổ sung một điều về “Trách nhiệm của Ủy ban Quốc phòng và An ninh trong việc thẩm tra việc bảo đảm quốc phòng, an ninh trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết”.

Cụ thể: (1) Ủy ban Quốc phòng và An ninh có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; (2) Ủy ban Quốc phòng và An ninh tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra; (3) Nội dung tham gia thẩm tra để bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh của dự án, dự thảo bao gồm: (a) Xác định vấn đề bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh trong dự án, dự thảo, (b) Việc bảo đảm và tuân thủ yêu cầu quốc phòng, an ninh trong dự án, dự thảo, (c) Việc bảo đảm kết hợp kinh tế, xã hội với quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế, xã hội trong dự án, dự thảo, (d) Tính khả thi của các quy định trong dự án, dự thảo để bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh.

__________

(1) Nhiều quy định về bảo đảm quốc phòng và an ninh trong một số luật chưa được hướng dẫn thi hành như: Luật Hàng không dân dụng (Khoản 1, Điều 5); Luật Hàng hải Việt Nam (Khoản 2, Điều 5); Luật Công nghệ thông tin (Khoản 8, Điều 6); Luật Đường sắt (Khoản 1, Điều 4); Luật Khoa học công nghệ (Khoản 1, Điều 5); Luật Đê điều (Khoản 1, Điều 5); Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Khoản 1, Điều 9)…

ThS. Đoàn Phúc Thịnh - <i>Phó Vụ trưởng, Vụ Quốc phòng và An ninh</i>