Mấy vấn đề về chính sách tiền lương với đại biểu Quốc hội chuyên trách

Ts. Bùi Ngọc Thanh 15/07/2018 08:10

Thực tế chính sách tiền lương đối với ĐBQH chuyên trách thực sự mới được hình thành theo Nghị quyết số 138/UBTVQH11 ngày 21.11.2002 của UBTVQH Khóa XI. Khi đó số lượng ĐBQH chuyên trách đã chiếm tới 24,3% tổng số ĐBQH. Tuy nhiên, về cơ bản thì chính sách đó cũng tương tự như chính sách đối với cán bộ, công chức các cơ quan hành pháp.

Điều khác duy nhất là, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban đều do các Ủy viên UBTVQH kiêm nhiệm nên đều hưởng mức lương Ủy viên UBTVQH (không hưởng mức lương như Bộ trưởng).

Việc hoàn thiện chính sách tiền lương đối với ĐBQH chuyên trách là cấp bách, nhưng phải tuân thủ Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII (số 27-NQ/TW ngày 21.5.2018) và phải căn cứ vào đặc điểm của loại lao động này.

Một vài đặc điểm của ĐBQH chuyên trách

Đặc điểm lớn nhất là phải có “phông” kiến thức rộng và chiều sâu của sự hiểu biết. Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH mà đại biểu phải đóng góp thực hiện: QH là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam; QH thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 1 Luật Tổ chức QH năm 2014). Nói cách khác, mọi hoạt động của quốc gia đều hội tụ trong hoạt động của QH. Bởi vậy, ĐBQH phải hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực (kinh tế, xã hội, luật pháp...) thì mới hoạt động có hiệu quả, nhất là đối với ĐBQH chuyên trách với 100% thời gian làm việc ở QH. Đặc điểm này khẩn thiết yêu cầu đại biểu phải được đào tạo, tự đào tạo, nâng cao trình độ càng nhanh càng tốt.

Không gian và thời gian làm việc của ĐBQH chuyên trách hầu như là “vô định”. Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, vai trò của đại biểu: Là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong QH (Điều 21 Luật đã dẫn). ĐBQH chuyên trách không chỉ hoạt động ở địa phương nơi ứng cử mà còn hoạt động ở nhiều địa phương khác trong cả nước. Với yêu cầu kiến thức sâu rộng và “áp lực” thời hạn công việc, áp lực hiệu quả hoạt động... thì đại biểu không thể chỉ làm việc theo giờ hành chính mà có thể làm việc bất kỳ ở đâu, giờ nào khi tiếp nhận được các nguồn thông tin.

Hai đặc điểm trên dẫn đến một thực tế là, các ĐBQH chuyên trách các khóa gần đây, ngoài yêu cầu có cấp độ đào tạo từ đại học trở lên thì tất cả đều đạt “cấp bậc” từ chuyên viên chính trở lên, có thâm niên công tác ít nhất 10 năm trở lên rồi mới làm ĐBQH chuyên trách...

Thiết kế sơ bộ chính sách tiền lương cải cách

Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII đã chỉ rõ mục tiêu cải cách, “Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương” “Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo phù hợp với nguồn lực của Nhà nước và nguồn thu dịch vụ công, bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao động...”.

Về nội dung cải cách, Nghị quyết chỉ rõ: Xây dựng 1 bảng lương chức vụ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo (bầu cử và bổ nhiệm) trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp xã theo nguyên tắc: (1) Mức lương chức vụ phải thể hiện thứ bậc trong hệ thống chính trị; giữ chức vụ lãnh đạo nào thì hưởng lương theo chức vụ đó... mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp trên phải cao hơn mức lương chức vụ của người lãnh đạo cấp dưới; (2) Quy định một mức lương chức vụ cho mỗi loại chức vụ tương đương; không phân loại bộ, ngành, ban, ủy ban và tương đương ở Trung ương... Xây dựng 1 bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch công chức và chức danh nghề nghiệp viên chức áp dụng chung đối với công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo...  xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương...”.

Từ những quy định của Nghị quyết, thì chính sách tiền lương đối với ĐBQH chuyên trách cần được hoàn thiện theo một số nội dung sau. Trước hết, theo Điều 67 Luật Tổ chức QH thì ĐBQH chuyên trách ngoài Chủ tịch, Phó Chủ tịch QH còn có Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.

Do đó, trong bảng lương chức vụ chung của Nhà nước, cần xây dựng riêng các ngạch lương cho ĐBQH chuyên trách. Trong ngạch này có thể xây dựng từ 3 đến 4 thang lương. Một thang của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch QH (tương tự như thang lương của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ); một thang của Ủy viên UBTVQH; một thang của Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban; một thang của Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban. Nếu có chủ trương “nhất thể hóa” chức danh Ủy viên UBTVQH với Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban thì không cần xây dựng thang lương riêng cho Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm Ủy ban.

Các ĐBQH chuyên trách thông thường chỉ hoạt động từ 2 đến 3 nhiệm kỳ, nhiều trường hợp chỉ một nhiệm kỳ; số 3 nhiệm kỳ trở lên không nhiều; hơn nữa theo quy định hiện hành thì cấp trưởng không đảm nhiệm chức vụ quá 2 nhiệm kỳ, do đó các thang lương của ĐBQH chuyên trách nên thiết kế ít bậc (khoảng 2 đến 4 bậc), vì rất hiếm trường hợp một nhiệm kỳ 2 lần nâng lương.

Trong bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ chung của Nhà nước, có thể xây dựng ngạch lương riêng cho ĐBQH chuyên trách không giữ chức danh lãnh đạo gồm 3 thang lương: Một thang của Ủy viên thường trực, một thang của Ủy viên chuyên trách và một thang của các Ủy viên khác. Các thang lương đó cũng chỉ nên thiết kế từ 2 đến 4 bậc là hợp lý. Trong đó bậc 1 tương đương với bậc 4 của bảng lương chung của Nhà nước. Còn nếu sử dụng bảng lương chung của Nhà nước thì cần lưu ý, mặc dù trả lương theo vị trí việc làm nhưng không bao giờ được xếp mức lương bậc 1 cho ĐBQH chuyên trách, thậm chí không xếp vào bậc 2, bậc 3 của thang, bảng lương chung. Vì như đã trình bày, ĐBQH chuyên trách thường đã có ít nhất 10 năm làm việc trở lên và thường cũng đã đạt trình độ chuyên viên chính trở lên rồi mới làm ĐBQH chuyên trách.

Một vấn đề cũng đáng lưu ý nữa là, ở các cơ quan của Chính phủ, dưới bộ, ngành là các vụ, viện, cục, tổng cục... nhưng ở Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH thì chỉ có các Tiểu ban (theo Khoản 4 Điều 67 nói trên). Trưởng tiểu ban là ĐBQH chuyên trách chịu trách nhiệm về một khối công việc của Hội đồng hoặc Ủy ban, song lâu nay chưa có mức lương hoặc phụ cấp (mặc dù “chức danh” Trưởng tiểu ban đã được luật định). Lần này nên xem xét theo hai hướng, hoặc là xếp mức lương cao hơn một bậc, hoặc là có một khoản phụ cấp, đó là phụ cấp kiêm nhiệm công việc (không phải kiêm nhiệm chức vụ).

Về các chế độ phụ cấp lương, theo Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII (đã dẫn) thì trong số các khoản phụ cấp còn được giữ lại, đối với ĐBQH chuyên trách có thể áp dụng hai khoản là phụ cấp lưu độngphụ cấp khu vực. Về phụ cấp lưu động, như đã trình bày, đại biểu hoạt động trong khắp cả nước, sự di động của đại biểu có hai khoản chính phải chi phí, khoản lưu trú chi cho sinh hoạt ở nơi đến làm việc thì đã có, còn khoản bù đắp lại hao phí lao động trong quá trình di chuyển thì chưa có, nay cần được tính đến. Phụ cấp khu vực (vùng), cần được áp dụng theo 4 vùng như khu vực lao động thị trường. Vì cùng sống trên một vùng địa lý, không thể có chuyện lao động tay chân (doanh nghiệp) thì bị tác động bởi các yếu tố đắt đỏ, môi trường nên được phụ cấp; còn lao động trí óc (chất xám) không bị tác động nên không được phụ cấp.

Ts. Bùi Ngọc Thanh