Nghê - tinh hoa của người Việt
Khoảng 10 năm trước, TS. Trần Hậu Yên Thế (Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam) đã nghiên cứu linh vật tại các đền, chùa… khắp cả nước, trong đó có nghê. Theo ông, đây là linh vật sống động, gần gũi, thể hiện tinh hoa của người Việt. Chúng ta hoàn toàn có thể đưa nghê hòa nhập đời sống đương đại, thay thế dần các linh vật ngoại lai.
Cung kính và hoan hỉ
- Có nhiều linh vật đi suốt chiều dài lịch sử người Việt, song con nghê được xem là gần gũi và biểu cảm hơn cả. Đã có thời gian dài nghiên cứu hình tượng nghê, ông có thể chia sẻ rõ hơn về linh vật này?
- Mỗi dân tộc đều có cách thức và nhu cầu sử dụng linh vật trong các không gian tín ngưỡng. Ở Việt Nam có linh vật kiểu Việt như nghê, sư tử, voi, hổ... và cách tạo hình những linh vật này có nét riêng độc đáo. Nghê đã đi suốt chiều dài lịch sử người Việt từ dân gian đến cung đình. Một trong những văn bia quan trọng về sự xuất hiện của con nghê là văn bia thời Lý năm 1090 có tên “Minh Tịnh tự bi văn” ở Thanh Hóa. Qua sự dịch chuyển văn hóa giữa các tộc người, người Việt đã tiếp thu, học tập và sáng tạo nên hình tượng con nghê sống động. Đó là con vật uy nghiêm, biểu cảm, gần gũi, không hướng đến sự trấn áp hay dọa nạt như một vài con vật khác.
Nghiên cứu của tôi bắt đầu từ những con nghê tại đền Vua Đinh, Vua Lê ở cố đô Hoa Lư từ 10 năm trước, sau đó mở rộng tầm nhìn đến những vùng miền khác. Cũng bởi vì, chúng tôi tình cờ phát hiện ra rằng, người Việt đi tới đâu thì nghê cũng tới đó. Nghê có mặt ở đền miếu, lăng tẩm, đình, chùa, từ thường dân cho đến cả chốn hoàng cung.
![]() Hoạ sĩ Trần Hậu Yên Thế bên linh vật nghê Việt |
- Ông có thể khái quát hóa hình tượng nghê theo các nhóm hình thức, biểu hiện như thế nào?
- Nếu có thể phân tách cho gọn, nghê có hai dạng thức, một rất cung kính, khiêm cung và thành kính; dạng thứ hai là náo hoạt, vui vẻ và hoan hỉ. Đây là hai dạng tương đối điển hình, nhưng cái chung nhất là nó rất người, rất Việt. Đấy là các hình thức mà những linh vật khác không có được. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ từng nói, chỉ thấy nói cười như nghê chứ không ai nói như rùa, cười như phượng. Đó cũng là thông điệp mà người Việt Nam muốn gửi gắm tình cảm của các nghệ nhân từ nhiều đời xa xưa đến ngày nay.
- Theo ông, làm thế nào nhận dạng được nghê đã Việt hóa?
- Nghê trong nghiên cứu của tôi tại hai ngôi đền Vua Đinh, Vua Lê được tạo tác trong khoảng 4 thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX. Chúng xứng đáng tiêu biểu cho trình độ nghệ thuật vừa giản dị, thuần hậu lại rất mạnh mẽ, lôi cuốn người Việt. Nó ấm áp, gần gũi, tinh tế, kỹ lưỡng mà không phô trương sự cầu kỳ, tỉa tót. Nếu nhìn kỹ vào khuôn mặt nghê, có thể bắt gặp từ ánh mắt, nụ cười, cả những giọt nước mắt của người xưa thấm lên đá, lên gỗ.
Để phù hợp với chiều kích văn hóa người Việt, nghê của người Việt thường nhỏ nhắn, vì đặt dưới bệ thấp sẽ tạo sự hài hòa với con người. Đầu nghê thường nhìn lên, tạo sự giao cảm với con người chứ không ngăn cách, thị uy như linh vật ngoại lai. Nó có hai chức năng, hoặc là hoan hỉ chào đón ở lối vào, hoặc là tạo ra sự thương cảm ở các đền, miếu. Vào thời Nguyễn nó còn có ý nghĩa là con vật soi xét, phân biệt người ngay kẻ gian. Như ở điện Thái Hòa (kinh thành Huế), con nghê dữ dội hơn bình thường. Dân gian Việt có câu “làm phượng thì múa, làm nghê thì chầu”. Hay người ta thường nói là nói cười như nghê là bởi con nghê mang lại niềm vui, sự hoan hỉ cho con người.
Đưa nghê hòa nhập đương đại
- Hình ảnh con nghê trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt được phổ biến như thế nào, thưa ông?
- Trong quá trình thu thập kiến thức, từ nghiên cứu, điền dã, tìm hiểu tại nhiều đền, đình trong cả nước, tôi đã trình bày lai lịch, danh xưng, hình tướng và ý nghĩa biểu tượng của nghê, cả hệ thống đồ án linh vật nghê ở đền Vua Đinh, Vua Lê, cùng hình ảnh nghê trong mỹ thuật truyền thống, gắn với đời sống văn hóa và tâm linh của người Việt, trong cuốn sách “Phác họa nghê - Gã linh vật bên rìa”, vừa được NXB Thế giới ra mắt.
Trước làn sóng linh vật ngoại lai tràn ngập cơ sở tín ngưỡng tôn giáo người Việt, tôi thấy có động lực rất lớn với ý tưởng để hình tượng nghê sống dậy, như nhiều người nói “cấp sổ đỏ” cho nó trong ngôi nhà linh vật Việt. Linh vật nghê đã đi chặng đường dài suốt các triều đại từ Lý, Trần… đến ngày hôm nay, được lựa chọn, cân nhắc, suy xét… Đấy là lượng tư liệu rất lớn, cần được thống kê, tìm nét hồn cốt, gốc gác văn hóa, để khẳng định nghê là linh vật được sáng tạo bởi tinh hoa của người Việt.
- Từ đền, miếu Việt, nghê đã bước ra ngoài cuộc sống ra sao để trở nên thân thiết, gần gũi như hiện nay?
- Tôi nhận thấy, linh vật này đã góp phần làm nên diện mạo tinh thần sống động, lạc quan, bình dân và thân thuộc cho nghệ thuật người Việt thời Trung đại. Tuy nhiên, để nghê Việt không bị mai một và quên lãng, tôi nghĩ trong xã hội hiện đại nhiều áp lực, con người cần cái gì đó vui vẻ, thì nghê làm được, vì trạng thái biểu cảm tốt. Vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể đưa nghê hòa nhập đời sống, ngoài sản xuất cung cấp cho các đình, đền trong cả nước, hình tượng con nghê có thể được sử dụng làm sản phẩm trang trí, đồ lưu niệm…
- Xin cảm ơn ông!
