Có nên quy định “cứng” thời hiệu tố cáo?
Có nên quy định về thời hiệu tố cáo hay không? Đây là một trong những nội dung được nhiều ĐBQH tranh luận khi cho ý kiến lần 2 về dự án Luật Tố cáo (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ Tư vừa qua.
Không quy định sẽ gặp nhiều khó khăn
Vì còn ý kiến khác nhau, nên trong dự thảo trình QH tại Kỳ họp thứ Tư, cơ quan soạn thảo thể hiện hai phương án. Một, có quy định về thời hiệu tố cáo. Theo đó, đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì thời hiệu tố cáo là 5 năm, kể từ ngày có hành vi vi phạm; thời hiệu tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước là 3 năm kể từ ngày có hành vi vi phạm. Hai, không quy định về thời hiệu tố cáo.
Từ góc độ của cơ quan thẩm tra, đa số ý kiến của Ủy ban Pháp luật tán thành phương án 2. Vì rằng, thời hiệu xử lý đối với mỗi loại hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước đã được quy định trong các luật khác, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Bộ luật Tố tụng hình sự cũng không quy định về thời hiệu tố giác, tin báo tội phạm nhằm tạo điều kiện cho người dân đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm. Do đó, Luật Tố cáo không nên quy định về thời hiệu tố cáo mà chỉ nên quy định nguyên tắc không thụ lý đối với tố cáo về hành vi vi phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm.
Còn nếu quy định về thời hiệu tố cáo như phương án 1 của dự thảo Luật thì Chính phủ cần giải trình rõ hơn cơ sở của việc lựa chọn thời hiệu là 5 năm hay 3 năm kể từ ngày có hành vi vi phạm pháp luật. Thực tiễn cho thấy, có những trường hợp dù hành vi vi phạm pháp luật xảy ra đã lâu, nhưng hậu quả của hành vi đó vẫn chưa được khắc phục, hoặc vẫn đang gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (ví dụ như việc sử dụng bằng cấp giả để bảo đảm tiêu chuẩn trong bổ nhiệm cán bộ, công chức, việc cấp giấy tờ, chứng nhận sai cho tổ chức, cá nhân…), thì việc quy định thời hiệu “cứng” như trên là chưa phù hợp.
Ủng hộ phương án 1, một số ĐBQH đồng ý với quan điểm nên quy định thời hiệu giải quyết tố cáo. Lý lẽ là bởi nếu không quy định thời hiệu tố cáo sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết, nhất là với những vụ việc đã xảy ra từ lâu, việc xác minh rất khó khăn, mất nhiều thời gian và tốn kém công sức. Mặt khác, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhiều hành vi rất nghiêm trọng, nhưng có quy định về thời hạn về giải quyết tố cáo. Vì thế, quy định thời hiệu giải quyết tố cáo là hoàn toàn hợp lý.
Phân biệt thời hiệu tố cáo với thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý
| Tôi ủng hộ quan điểm không quy định thời hiệu tố cáo. Giải quyết tố cáo là thụ lý đơn tố cáo, sau đó ban hành kết luận giải quyết tố cáo, không phải là xử lý người có hành vi vi phạm. Như vậy thì tất cả đơn tố cáo phải được xử lý, xem xét và kết luận đầy đủ. Từ kết luận này, chúng ta mới có cơ sở xem xét để phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nếu có hành vi vi phạm của cán bộ, công chức. Nếu không kết luận và cho rằng việc tố cáo này đã hết thời hiệu thì tất cả quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại không được kết luận, từ đó không có cơ sở để phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp này. Nếu kết luận xong thì việc xử lý cán bộ, công chức sẽ tùy theo quy định của pháp luật khác để xử lý. Còn việc giải quyết tố cáo là phải có kết luận đầy đủ. Theo quan điểm của tôi là phải thụ lý tất cả, giải quyết và ban hành kết luận, sau đó việc xử lý cán bộ thế nào thì theo quy định pháp luật hiện hành. ĐBQH Trịnh Ngọc Thúy (TP Hồ Chí Minh) |
Tranh luận về thời hiệu tố cáo, ĐBQH Ngô Trung Thành (Đắk Lắk) khẳng định quan điểm “không thể chọn” phương án 1, vì hiện nay những thời hiệu liên quan đều được quy định tại các luật chuyên ngành. Ví dụ, Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng kể từ thời điểm có hành vi vi phạm. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 1 năm, trừ một số trường hợp vi phạm hành chính trong các lĩnh vực như kế toán, thuế, phí, lệ phí, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 2 năm. Liên quan đến vấn đề gian lận thuế, chậm nộp thuế, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính còn theo quy định của luật thuế. Liên quan các biện pháp xử lý hành chính thì tuỳ các biện pháp cụ thể mà quy định thời hiệu là 1 năm, 6 tháng, 3 năm.
Do đó, nếu quy định về thời hiệu tố cáo trong Luật Tố cáo sẽ mâu thuẫn ngay với hệ thống pháp luật. Nếu hành vi tố cáo thì chúng ta áp dụng theo quy định của luật này, nhưng hành vi vi phạm pháp luật không tố cáo thì lại áp dụng theo thời hiệu thông thường (?). “Tôi nghĩ một hành vi mà chúng ta áp dụng thời hiệu khác nhau sẽ dẫn đến rối loạn hệ thống khi triển khai thực hiện”, ĐB Ngô Trung Thành thẳng thắn.
Cũng xuất phát từ thực tế, một số ĐBQH bày tỏ ủng hộ việc không quy định về thời hiệu tố cáo. Vì rằng, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật ở đây rất rộng, bao gồm cả hành vi vi phạm pháp luật từ vi phạm kỷ luật đến vi phạm hành chính và trách nhiệm hình sự. Chính vì vậy, trong các luật nội dung đã quy định rất rõ, thời hiệu đối với vi phạm kỷ luật, vi phạm hành chính và vi phạm hình sự là tội phạm. Do vậy, các luật hình thức theo thiết kế cũng như truyền thống pháp luật của nước ta đều không quy định thời hiệu. “Luật Tố cáo là luật hình thức thì không nên quy định về thời hiệu, vì nếu quy định sẽ chồng chéo” (ý kiến của ĐBQH Nguyễn Văn Hiển - Lâm Đồng).
Dự án Luật Tố cáo (sửa đổi) là một trong những dự luật được sự quan tâm, theo dõi của đông đảo cử tri và nhân dân. Qua lần cho ý kiến đầu tiên tại Kỳ họp thứ Ba, mặc dù cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung, nhưng nhiều đại biểu “vẫn thấy chưa ổn” khi cho ý kiến lần 2 tại Kỳ họp thứ Tư vừa qua. Và quy định về thời hiệu tố cáo là một trong những nội dung “chưa ổn” cần được tiếp tục gia công, chỉnh lý, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tính khả thi của điều luật.
Với quan điểm cá nhân, Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho rằng, thời hiệu để giải quyết tố cáo và thời hiệu để xử lý trách nhiệm pháp lý là hai vấn đề khác nhau. Với xử lý trách nhiệm pháp lý, nếu hết thời hạn quy định, thì chúng ta không có quyền để xử lý người vi phạm hay phạm tội. Còn thời hạn để tố cáo với cơ quan người có thẩm quyền về một việc vi phạm pháp luật, hay tội phạm, thì pháp luật hiện không có quy định. Đây chỉ là thông tin báo cho cơ quan nhà nước biết có việc như vậy để xử lý những vấn đề khác. Ở đây là cần phân biệt thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý và thời hiệu để tố cáo, hay tố giác tin báo tội phạm.