Nên có nghị quyết của QH về phân định vùng miền núi, vùng cao

Anh Thảo 13/05/2017 07:43

Phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển và phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao là một chính sách lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hướng đến việc hỗ trợ địa bàn, đối tượng khó khăn nhất để dần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, dân tộc. Qua 20 năm thực hiện, tiêu chí phân định đã phát sinh nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn, đòi hỏi QH cần nghiên cứu có nghị quyết về phân định vùng miền núi, vùng cao.

Lấy ngọn làm gốc?

 Ở giai đoạn đầu, các bộ tiêu chí đã đề cập tương đối toàn diện, đặc biệt là phân định những khó khăn do điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện sản xuất khó khăn, đề cập đến yếu tố văn hóa, xã hội… tương đối chi tiết và cụ thể giúp phân định rõ ràng mức độ khác biệt giữa xã khu vực I, xã khu vực II và xã khu vực III.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến

Phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao được thực hiện từ năm 1993 và phân định vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển đã được thực hiện từ năm 1996 đến nay. Thế nhưng, qua 20 năm thực hiện, chúng ta vẫn chưa tổng kết, đánh giá về tính phù hợp của việc phân định và những nội dung tiêu chí cần sửa đổi, bổ sung.

Theo Thường trực Hội đồng Dân tộc, tiêu chí để phân biệt xã, huyện, tỉnh còn quá đơn giản, chủ yếu mới dựa vào độ cao so với mực nước biển để phân định nên chưa phản ánh chính xác được sự khác biệt giữa các địa phương, vùng, miền. Cũng là tỉnh vùng cao, nhưng khu vực miền núi phía Bắc có địa hình núi đá, độ dốc lớn, đất đai bị rửa trôi xói mòn, rất khó khăn trong đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội; ngược lại các tỉnh Tây Nguyên địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai có độ dốc không lớn, đất đỏ bazan màu mỡ, thuận lợi hơn trong việc đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội. Việc quy định độ cao trên 600m so với mực nước biển là vùng cao, độ cao trên 200m so với mực bước biển là vùng núi chưa khoa học, hợp lý, vì không có đủ luận cứ về địa hình, địa vật, điều kiện đất đai, độ dốc, hạ tầng kinh tế - xã hội để chứng minh.

Tương tự, tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển còn định tính, rất khó xác định trong thực tế. Ví dụ như tỷ lệ phần trăm thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh; tập quán sản xuất còn lạc hậu; số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thông tin đại chúng…

Bộ tiêu chí theo Quyết định 50/QĐ - TTg lấy hộ nghèo làm tiêu chí chính, trong khi đó việc phân định hộ nghèo hiện nay chưa thật chính xác. Mặc khác, tỷ lệ hộ nghèo chỉ mới phản ánh được một mặt, khó khăn của một xã phản ánh qua nhiều tiêu chí khác nhau như hạ tầng, đất đai… và đây là những yếu tố dẫn đến nguyên nhân nghèo đói. Việc bộ tiêu chí lấy ngọn làm gốc như vậy không hợp lý.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến phát biểu tại Hội thảo Ảnh: Hoàng Ngọc
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến phát biểu tại Hội thảo
Ảnh: Hoàng Ngọc

Rà soát lại tiêu chí

Cũng qua thực tiễn thực hiện ở các địa phương, đại diện lãnh đạo tỉnh Bắc Giang cho biết thêm, tiêu chí quy định các thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, huyện nghèo hiện đang lấy tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo là quyết định. Trong khi đó, các yếu tố tạo ra mức độ khó khăn của địa phương thì chưa tính đến như địa hình, độ cao, tỷ lệ đất canh tác, nguồn sinh thủy tự nhiên… Điều này dẫn đến hầu hết các địa phương không muốn thoát nghèo nhanh để còn được tiếp tục hưởng chính sách hỗ trợ. Tâm lý chung, xung quanh mình ai cũng nghèo cả, thì nghèo không có gì phải xấu hổ. Đáng lưu ý hơn, nhiều địa bàn vừa được hưởng chính sách ưu đãi theo tiêu chí miền núi, vùng cao, vừa được chính sách hỗ trợ theo tiêu chí phân định theo trình độ phát triển, gây chồng chéo, nhầm lẫn của một số cán bộ trong cách hiểu và áp dụng các chính sách.

Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi, chúng ta đang dựa vào kết quả phân định để ưu tiên đầu tư. Thế nhưng, sau hơn 20 năm, số xã, thôn bản đặc biệt khó khăn được ưu tiên đầu tư không giảm, mà lại tăng. Phải chăng đầu tư theo tiêu chí phân định không hiệu quả?

Rõ ràng, việc phân định lại miền núi, vùng cao, xác định lại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là cần thiết và cấp bách. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước làm căn cứ hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội. Vì vậy, nhiều thành viên Hội đồng Dân tộc đề nghị QH nên nghiên cứu ban hành nghị quyết về phân định vùng miền núi, vùng cao, quy định vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Cùng quan điểm này, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị thêm, Chính phủ cũng cần rà soát lại bộ tiêu chí, xây dựng theo hướng lượng hóa và dễ áp dụng, tạo thuận lợi cho công tác tổng hợp, rà soát, thẩm định và phê duyệt.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến đề nghị, tiêu chí phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao không chỉ dựa vào độ cao mà phải tính toán đến các yếu tố thời tiết, khí hậu, địa hình, địa vật, hạ tầng kinh tế - xã hội, khu vực biên giới, vùng khai thác nhiều tài nguyên khoáng sản, các tiêu chí đa chiều tác động đến sự phát triển (sức khỏe, dân trí, phong tục tập quán, điều kiện canh tác, phát triển sản xuất…). Chính phủ cũng phải xác định rõ thế nào là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và cơ quan nào của Chính phủ có quyền công bố để làm cơ sở cho các bộ, ngành vận dụng thống nhất.

Từ phía các địa phương phải rà soát lại kết quả đã được công nhận xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao. Kiến nghị đề xuất sửa đổi cho đúng với thực chất của tình hình địa phương. Theo đó, các xã cần tập trung ưu tiên nguồn lực để sớm đưa các xã ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Đặc biệt, Hội đồng Dân tộc đang cùng Ủy ban Dân tộc xây dựng, ban hành Luật Hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó, cần tích hợp các tiêu chí phân định và định hình lại cấu trúc đầu tư của Nhà nước.

Anh Thảo