4 cách tác động lên chính sách đối ngoại

Nhật An - Băng Tâm 04/06/2016 08:22

Là người đề xuất sáng kiến trong chính sách đối ngoại, Tổng thống Mỹ được trao quyền hạn rộng lớn trong định hình chính sách đối ngoại trong khi Quốc hội có quyền tán thành hoặc tác động nhằm điều chỉnh.

1. Phản ứng trước sự kiện quốc tế

Với tư cách là người phát ngôn và đứng đầu các cơ quan đối ngoại, tình báo, lực lượng vũ trang và bộ máy nhà nước, Tổng thống có trách nhiệm đưa ra phản ứng chính thức trước những sự kiện xảy ra ở nước ngoài, hoặc hành động bất ngờ của một Chính phủ khác gây ảnh hưởng tới các lợi ích của Mỹ.

Thông thường, Quốc hội ủng hộ Tổng thống, hoặc đôi khi tác động nhằm điều chỉnh chính sách. Đơn cử, Quốc hội Mỹ từng ủng hộ việc Chính phủ của Tổng thống Reagan đứng về phía London trong vụ tranh chấp quần đảo Falkland giữa Argentina và Anh năm 1982. Hoặc Quốc hội cũng từng tác động nhằm thay đổi chính sách của Chính phủ. Năm 1983, Chính quyền Reagan cử quân đội Mỹ tham gia Lực lượng Đa quốc gia ở Lebanon trong vòng 18 tháng, nhằm phản ứng vụ đánh bom khủng bố tại Beirut trước đó làm ít nhất 200 thủy quân lục chiến thiệt mạng. Quyết định này vấp phải sự phản đối của nhiều nghị sĩ có tiếng nói trong Quốc hội. Tháng 3.1984, Tổng thống đã buộc phải ngừng cho lính Mỹ tham gia Lực lượng Đa quốc gia.

Harry Truman ký ban hành Kế hoạch Marshall năm 1948
Harry Truman ký ban hành Kế hoạch Marshall năm 1948

2. Trình và thông qua các đạo luật về đối ngoại

Chính phủ trình Quốc hội dự thảo đạo luật về việc thực hiện một chương trình trong chính sách đối ngoại nếu chương trình này cần được Quốc hội thông qua. Khi đó, sự phê chuẩn của Quốc hội là cần thiết. Thậm chí, Quốc hội có thể đóng vai trò ít nhiều trong quá trình xây dựng, điều chỉnh đạo luật mà Chính phủ đề xuất, hoặc xây dựng đạo luật mới.

Ví dụ tiêu biểu cho việc cả hai nhánh hành pháp và lập pháp phối hợp phát triển chính sách là Kế hoạch Marshall. Ngày 5.6.1947, Ngoại trưởng George Marshall đề xuất Mỹ hỗ trợ tái thiết châu Âu trong vòng 4 năm. Để có đủ thời gian xem xét, Tổng thống Truman đã đề nghị một chương trình hỗ trợ tạm thời và được Quốc hội thông qua vào tháng 12.1947. Sau đó, Tổng thống Truman đã trình Quốc hội đề xuất Chương trình tái thiết châu Âu dài hạn hơn. Quốc hội đã lập ra Ủy ban Đặc trách về cứu trợ quốc tế, nhằm nghiên cứu nhu cầu cụ thể của châu Âu. Các Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện và Hạ viện cũng tiến hành nhiều cuộc điều trần liên quan đến chương trình này. Đạo luật ủy quyền Chính phủ thực hiện chương trình sau đó được thông qua, là thành quả hợp tác giữa hai đảng, cũng như nỗ lực chung của hai nhánh hành pháp - lập pháp.

3. Đàm phán và phê chuẩn các thỏa thuận quốc tế

Có thể nói việc đàm phán các thỏa thuận quốc tế nằm trong tay nhánh hành pháp. Một số thỏa thuận có thể được gọi là “thỏa thuận chỉ thuộc về Tổng thống” bởi Tổng thống có toàn quyền hoàn tất việc đàm phán mà không cần Thượng viện hay Quốc hội thông qua. Ví dụ như thỏa thuận Yalta 1945 hay Hiệp định Paris về Hòa bình tại Việt Nam 1973, Hiệp ước Tù binh Iran 1981, Hiệp ước Afghanistan ngày 14.4.1988.

Tuy nhiên, hầu hết các thỏa thuận quốc tế đều có sự tham gia của Quốc hội dưới hình thức nào đó: có thể được Quốc hội chấp thuận trước hoặc sau khi hoàn tất đàm phán. Việc thông qua trước khi hoàn tất đàm phán thường được áp dụng đối với các thỏa thuận về quân sự, viện trợ kinh tế, thương mại quốc tế, trong đó mục tiêu và tiêu chí cho việc đàm phán sẽ được Quốc hội định trước. Còn thông qua sau khi hoàn tất đàm phán, có thể kể tới việc Quốc hội thông qua thỏa thuận tạm thời SALT I năm 1972 bằng nghị quyết chung, đi kèm với sửa đổi Jackson đòi hỏi Tổng thống sẽ ký một thỏa thuận về việc không giới hạn sự tham gia của các lực lượng chiến lược Mỹ ở mức thấp hơn Liên Xô.

Trong trường hợp của Thỏa thuận Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và các thỏa thuận trong phạm vi của Thỏa thuận chung về thuế quan và thương mại (GATT), Quốc hội đã cho phép nhánh hành pháp đàm phán trước, nhưng thỏa thuận cuối cùng vẫn phải được Quốc hội thông qua trước khi có hiệu lực. 

4. Tuyên bố đối ngoại

Đường lối ngoại giao có thể được xác định thông qua tuyên bố đơn phương hoặc tuyên bố chung cùng các Chính phủ khác. Đa phần, tuyên bố đơn phương sẽ nêu ra một mục tiêu cụ thể, như trong bài phát biểu liên bang ngày 28.1.1992, Tổng thống Bush đã đề nghị Mỹ và Nga cùng xóa bỏ toàn bộ kho vũ khí đạn đạo đa mục đích. Tuyên bố chung - chẳng hạn như kết thúc hội nghị Tokyo ngày 5.5.1986, người đứng đầu 7 quốc gia trong đó có Mỹ đã ra tuyên bố chung cam kết chống chủ nghĩa khủng bố thông qua một loạt biện pháp kinh tế và ngoại giao.

Quốc hội có thể ủng hộ, thay đổi tuyên bố của Chính phủ, hoặc tham gia vào việc thi hành nội dung tuyên bố. Sau hội nghị An ninh và hợp tác ở châu Âu Helsinki vào ngày 1.8.1975, Tổng thống Ford và 34 vị nguyên thủ quốc gia khác đã ký vào văn bản cuối cùng khai thông dòng di chuyển con người và thông tin giữa Tây và Đông Âu. Quốc hội đã thành lập Ủy ban An ninh và hợp tác ở châu Âu để giám sát việc thực thi thỏa thuận. Hoặc như năm 1992, Quốc hội đã yêu cầu Bộ trưởng Tài chính chỉ thị cho Giám đốc điều hành của Mỹ tại Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ bỏ phiếu chống việc gây quỹ cho mọi dự án liên quan đến Quỹ Đầu tư đa phương nếu dự án có khả năng làm giảm số việc làm tại Mỹ.

Khi nào việc thi hành cam kết của Mỹ trong tuyên bố đơn phương hay đa phương bắt buộc phải ban hành luật hay được Quốc hội chấp thuận thì Quốc hội sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn. Ví dụ khi Chính phủ cam kết đóng góp cho các ngân hàng phát triển đa phương, các quỹ cần được Quốc hội cho phép và điều phối.  

Nhật An - Băng Tâm