Châu Âu du ký
Kỳ 4: Người đàn bà đạp xe trên phố Berlin

Hoa hậu Nguyễn Thu Thủy 27/12/2015 08:48

Khi biết thêm về chị, chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi biết người phụ nữ gốc Việt này là con cháu một gia đình trí thức Hà Nội vô cùng nổi tiếng Nguyễn Văn Huyên - nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của Việt Nam, và chúng tôi chỉ tình cờ biết được điều đó qua GS. TS. Nguyễn Văn Huy (con trai ông Huyên) - nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người đang xây dựng bảo tàng dòng họ gia đình…

>> Kỳ 1: Gặp Linda Lê tại Paris

>> Kỳ 2: Milan Kundera - ra đi và trở về

>> Kỳ 3: Tống Giang ở Praha

“Phía… Đông không có gì lạ”

Chỉ trong một chớp mắt, tôi đã thấy người phụ nữ ấy thay đổi hoàn toàn. Vừa mới xong, chị là một cô bé con hơi nhí nhảnh quá mức, giọng nói lanh lảnh cao vút và các cử chỉ giống một người đang quá vui, trong lòng chỉ chực nhảy chân sáo đến nơi, giờ chị đã trở nên sầu muộn, như đi lạc vào một không gian nào thật buồn bã, thật quạnh quẽ. Vừa mắc kẹt ở tuổi thơ như một hiện thân của Peter Pan, chị vừa lang thang trong những ký ức u tối nhất của một kiếp người không thôi phải lơ lửng giữa các miền đất.

Tôi gặp A. hoàn toàn vì tình cờ, sau khi một nhân vật đã nhận lời từ lâu bất ngờ từ chối để chúng tôi quay phim. Về sau, tôi mới thấy thật may mắn vì chuyện đã xảy ra thiếu may mắn như vậy. A. đã xuất hiện cùng một câu chuyện buồn đến mức tôi nghĩ không dễ gì mà ta gặp được trong đời.

Xe đạp ở Berlin Ảnh: Lê Kim Hưng
Xe đạp ở Berlin  Ảnh: Lê Kim Hưng

 Tôi cũng biết ngay rằng, cần phải khẩn trương hết sức, cần phải tiếp cận người phụ nữ ấy trong đúng khoảnh khắc thế giới của chị chợt mở ra. Chỉ cần chậm chân một chút thôi, chỉ cần không kịp hoàn thành một cách hoàn hảo mọi thứ trong một thời gian rất ngắn, là thế giới đó sẽ đóng lại mãi mãi, không cách gì xâm nhập được nữa. Chưa từng bao giờ tôi thấy mình phải đối mặt với một tình cảnh đậm màu sắc của Lọ Lem Cinderella đến thế, phải thật nhanh, thật nhanh, trước khi những tiếng chuông đồng hồ báo nửa đêm kia hết rung và thanh âm ngắt lịm. Cũng chưa bao giờ tôi nghĩ mình sẽ gặp một câu chuyện buồn đến vậy.

 A. sống trong một căn hộ tại tòa nhà cao tầng về phía Đông Berlin, phảng phất giống những khu Giảng Võ, Bách Khoa hay Trung Tự trước đây. Dư âm của một thời đã qua dù không còn thật rõ nhưng vẫn còn vương lại ở nơi này. Trong một siêu thị ngay gần Alexanderplatz, khi thanh toán tiền mua mấy thứ đồ, tôi nhận ra bà bán hàng có đầy đủ mọi đặc điểm tính cách của một nhân viên mậu dịch ở Hà Nội xưa kia, nỗi ám ảnh của cả tuổi thơ tôi. Rạp chiếu phim Babylon nằm đối diện với nhà hát Nhân Dân ở quảng trường mang tên nhà hoạt động cách mạng Rosa Luxemburg giờ đây tuy dán áp phích quảng cáo cho cuộc nói chuyện sắp tới của Slavoj Zizek, một triết gia được thế giới tư bản hoan nghênh, vẫn có vẻ ngoài của một trung tâm văn hóa xã hội chủ nghĩa.

“Chiến tranh mang khuôn mặt… trẻ con”

Một người bạn của A. nói với tôi rằng cuộc đời của chị tiếp nối hết lận đận này đến lận đận khác. Những người chồng và những đứa con, những khó khăn kinh khủng của giai đoạn ngay sau khi thống nhất nước Đức, và nông nỗi cô độc dai dẳng của một người đàn bà ngoại ngũ tuần.

Nỗi cô độc theo chiều hướng lạc loài đã đeo đuổi A. ngay từ nhỏ. Chị là một đứa con lai châu Á rất hiếm hoi ở Berlin trong thập niên 60. Chị vẫn còn giữ một số tạp chí đã rất cũ, trên đó ngoài bìa là ảnh chụp chị hồi bé, choán hết toàn bộ khổ báo. Năm ấy, chiến tranh Việt Nam diễn ra ác liệt, các nhà báo Đông Đức nghĩ đến chuyện cần phải tuyên truyền ủng hộ Việt Nam, và họ đã tìm đến nhà chị. Hôm ấy, chị còn nhớ, họ đã chụp ảnh chị suốt cả ngày, chỉ để lấy một bức duy nhất đăng lên bìa tạp chí. A. nói chị không thích bức hình đó, vì chị gần như bị lừa, họ (những người của tờ báo) đã chọn một bức hình chị chụp cùng con búp bê yêu thích của chị, nhưng con búp bê thì lại bị làm mờ đi, và chỉ còn gương mặt của cô bé lai là chị nhìn đăm đăm một cách ám ảnh. Tôi nhớ đến tác phẩm của một nhà văn nữ, tên của nó đại ý là chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ. Ở đây, một ý nghĩ cay đắng hiện ra trong óc tôi: Chiến tranh đôi khi cũng có thể mang khuôn mặt trẻ em.


"Vừa mắc kẹt ở tuổi thơ như một hiện thân của Peter Pan, chị vừa lang thang trong những miền ký ức u tối...".

A. “dính dáng” đến cuộc chiến tranh Việt Nam nhiều hơn thế rất nhiều. Khi biết thêm về chị, chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi biết người phụ nữ gốc Việt này là con cháu một gia đình trí thức Hà Nội vô cùng nổi tiếng: nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên - nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của Việt Nam, và chúng tôi chỉ tình cờ biết được điều đó qua GS. TS. Nguyễn Văn Huy (con trai ông Huyên) - nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người đang xây dựng bảo tàng dòng họ gia đình… Bố chị là một bác sĩ quân y, từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau cuộc chiến tranh với Pháp, ông làm việc tại bệnh viện Việt Đức, Hà Nội vừa được Đông Đức giúp đỡ xây dựng. Trong đoàn chuyên gia người Đức sang Hà Nội có một cô gái Đức làm công việc phiên dịch, bà dịch từ tiếng Đức sang tiếng Pháp để giúp các chuyên gia Đức nói chuyện được với những bác sĩ người Việt có khả năng nói tiếng Pháp, trong số đó có bố của A.

 “... Ngay lúc ấy chị đã biết một điều gì đó khủng khiếp vừa xảy ra, tuy chị còn rất nhỏ và rất nhiều năm tháng sau này, chị luôn luôn hình dung được chính xác khuôn mặt bố chị lúc đó, ánh mắt vừa đau đớn vừa cương nghị và đầy quyết tâm trước một quyết định làm đảo lộn mọi chuyện...”

 Về sau này, khi họ đã lấy nhau, sau khi đã vượt qua rất nhiều trở ngại mà ngày nay ta thấy vừa dễ hình dung vừa có cảm giác sao mà không thể tưởng tượng, A. kể, trong nhà bố mẹ chị nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Họ đã tạo ra một gia đình kỳ lạ: giữa Berlin có một bà mẹ Đức, một ông bố Việt Nam và một đứa bé con lai hai dòng máu, chỉ biết tiếng Đức, bập bẹ vài từ tiếng Việt và hoàn toàn không hiểu bố mẹ nói với nhau những gì, trong một ngôn ngữ xa lạ như tiếng Pháp.

A. từ chối nói cho chúng tôi tên của mẹ chị. Và khi viết những dòng này, để kể lại câu chuyện của một người phụ nữ nhỏ nhắn dáng vẻ đáng yêu nhưng thật khó nắm bắt, tôi cũng quyết định không viết đầy đủ tên của chị. Chị mang một cái họ phổ biến ở Việt Nam.

 Gia đình kỳ lạ ấy, tồn tại trong một quãng thời gian rất ngắn, chỉ vài năm, là một thiên đường, một thiên đường mà cả cuộc đời mình A. sẽ khôn nguôi mơ về. Với chị, người bố rất thân thuộc, nhưng cũng xa lạ, nhưng chị yêu ông khi ông cố gắng nói tiếng Đức, chị yêu những lỗi phát âm của ông khi cùng chị hát những bài hát trẻ con. A. còn giữ một bức ảnh đã rất cũ, chụp bố mẹ cùng chị tại một quán ăn. Một người đàn ông châu Á có khuôn mặt rất rắn rỏi, nam tính, đặc biệt nhiều góc cạnh, một người phụ nữ Đức tóc vàng cao lớn và quyến rũ. Họ cười rất tươi cùng cô bé gái bụ bẫm. Chị còn nhớ chuyến đi nghỉ duy nhất của họ, cả nhà đã sang Bulgaria tắm biển, thời ấy được như vậy là cả một niềm sung sướng to lớn, hiếm có.

A. bắt đầu khóc, và không ai trong số chúng tôi cầm được nước mắt, khi giọng nói vẫn còn vương rất nhiều âm sắc của một cô bé gái vĩnh viễn không tan biến ở chị, kể về cái ngày quyết định ấy, cái ngày đã làm cho gia đình chị không còn chốn thiên đường nào để nương náu nữa, khiến cuộc đời chị cùng mẹ chị thay đổi hoàn toàn. Có tiếng chuông cửa, bố chị, vẫn mặc trên người bộ pijama, ra mở cửa. Một người từ sứ quán Việt Nam đến gặp ông. A. nói rằng ngay lúc ấy chị đã biết một điều gì đó khủng khiếp vừa xảy ra, tuy chị còn rất nhỏ, và rất nhiều năm tháng sau này, chị luôn luôn hình dung được chính xác khuôn mặt bố chị lúc đó, ánh mắt vừa đau đớn vừa cương nghị và đầy quyết tâm trước một quyết định làm đảo lộn mọi chuyện.

Bố của A. được gọi về Việt Nam vì cuộc chiến tranh đang cần có thêm các bác sĩ quân y ở mặt trận. Nhiều năm sau này, khi đã có đủ sức về Hà Nội gặp họ hàng bên nội, A. mới thực sự biết những người cũng thuộc về gia đình của bố chị, gặp người chú tháng tháng thắp hương cho bố chị trên bàn thờ đặt tại một ngôi nhà trên phố Hàm Long.

A. đặc biệt thích cuốn tiểu thuyết “Hiroshima tình yêu của tôi” của Marguerite Duras. Chị cũng thích cả bộ phim chuyển thể từ đó nữa. Mãi rồi chúng tôi cũng hiểu được một điều, chị thấy diễn viên người Nhật đóng vai chính trong đó rất giống bố chị. Với A., và cả với mẹ chị nữa, bố chị là một người rất đẹp. Đó cũng là một người đàn ông có tâm hồn phong phú. A. cho chúng tôi xem những bức ảnh mà bố chị chụp tại Hà Nội. Những bức ảnh này là của một nghệ sĩ nhiếp ảnh đích thực. Giờ đây, muốn xem chúng, ta phải có máy chiếu để chiếu lên tường từ những vuông phim âm bản. Chiến tranh thật dai dẳng đối với những người phụ nữ. Duras từng có chồng phải đi trại tập trung Do Thái của phát xít Đức, còn người bố của A. đã qua đời chỉ vài tháng sau khi từ Việt Nam trở lại Berlin, sau khi đã phục vụ đất nước trong vòng vài năm.

 Một nhà văn nữa mà A. yêu quý là Hans Fallada, người Đức, cũng là một người viết về con người trong chiến tranh. Mỗi năm, ít nhất một lần, A. đọc lại cuốn tiểu thuyết của Fallada viết về một người đàn ông bé nhỏ và vô danh. Trong nhà A., sách văn chương không nhiều bằng sách điện ảnh và đĩa phim, vì trước đây chị làm việc cho hãng phim của Đông Đức.

Không thể quên nổi hình ảnh người phụ nữ ấy, nhỏ bé, giọng nói hơi có chất kim loại khàn đi, đứt quãng trong tiếng nức nở khi để cho ký ức quay trở về. Nhưng tôi muốn, rất muốn nhớ đến A. trong một hình ảnh khác. Khi chúng tôi hỏi chị muốn xuất hiện trong bộ phim của chúng tôi trong một hình ảnh như thế nào, A. đã trả lời ngay là muốn được quay mình đang đi xe đạp. Chúng tôi đặt máy camera lên ô tô rồi đi theo chị qua những phố Berlin vắng lặng đầu đông. Nhiều điều đã thay đổi, nhưng bầu không khí phố phường ấy chắc vẫn còn phảng phất giống như cách đây hơn năm mươi năm, vào đầu thập niên 60 rạo rực và tươi đẹp.

Khi bạn đạp xe đi giữa một thành phố, qua những con đường, những cây cầu, dưới những hàng cây, cứ đạp như vậy, mải miết mải miết, chắc chắn có lúc một lúc nào đó, giữa những vòng bánh xe quay, bạn sẽ tìm gặp được chính mình và những quá vãng.

<i>Hoa hậu</i> Nguyễn Thu Thủy