Hộ gia đình không nên là chủ thể giao dịch dân sự
Ở nước ta, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 ghi nhận hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Quy định này đã dẫn đến nhiều vướng mắc, khó khăn cho cả Nhà nước và người dân.
Trước hết, các quan hệ trong hộ gia đình, thành viên của hộ gia đình, người đại diện, tài sản chung, trách nhiệm pháp lý của các thành viên… thường có sự biến động (do tách hộ, nhập hộ, sinh, tử, kết hôn, ly hôn...). Điều đó đã dẫn tới việc rất khó xác định ai là thành viên của hộ gia đình và trách nhiệm của họ đối với các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình.
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự chưa có quy định cụ thể về phân tách giữa tài sản của các thành viên hộ gia đình (tài sản cá nhân của một thành viên, tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của cha mẹ và con…) với tài sản chung của hộ gia đình. Điều này dẫn đến những vướng mắc trong việc thực hiện các quyền sở hữu của hộ gia đình và thành viên hộ gia đình…
Trong khi đó, nguyên tắc nhất quán đã được ghi nhận trong thông lệ quốc tế cũng như trong tất cả các Bộ luật Dân sự trên thế giới là người dân được tự do lựa chọn tư cách chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự với vai trò là thể nhân (tham gia với tư cách là chủ thể và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản mình có) hoặc pháp nhân (cá nhân tham gia với tư cách là thành viên và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình). Trong thực tiễn, hộ gia đình cũng chỉ là một dạng thức để cá nhân tham gia quan hệ dân sự với vai trò là thể nhân.
Vì vậy, như nhiều ý kiến đề xuất, việc sửa đổi quy định về hộ gia đình cần theo nguyên tắc nói trên và bảo đảm hài hòa với thực tiễn Việt Nam. Theo đó, hộ gia đình tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua cá nhân là người đại diện hoặc là thành viên của mình theo quy định của Bộ luật này và các luật khác có liên quan. Các thành viên có thể thỏa thuận cử người đại diện tham gia, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự vì lợi ích chung. Địa vị pháp lý của hộ gia đình sử dụng đất được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.
Quy định như vậy dĩ nhiên có thể dẫn đến những chi phí về hoạt động xây dựng những chế định pháp lý về sở hữu chung, đại diện hoặc các chế định khác liên quan về hộ gia đình để thay thế việc không quy định hộ gia đình có địa vị pháp lý như một chủ thể trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn thực hiện chính sách xã hội, pháp lý của mình đối với hộ gia đình, đặc biệt trong quan hệ đất đai và các quan hệ khác có liên quan; giảm thiểu chi phí trong công tác quản lý nhà nước về những lĩnh vực có liên quan đến hộ gia đình; giảm thiểu những mâu thuẫn, tranh chấp dân sự và những chi phí giải quyết liên quan đến hộ gia đình, thành viên hộ gia đình hoặc người thứ ba vốn đã và đang chưa có đường lối giải quyết nhất quán.
Còn với người dân vẫn tiếp tục được thụ hưởng chính sách xã hội, pháp lý của Nhà nước đối với hộ gia đình, đặc biệt trong quan hệ đất đai và các quan hệ khác có liên quan; trách nhiệm dân sự của người dân được xác định rõ ràng hơn khi tham gia quan hệ dân sự với danh nghĩa hộ gia đình, khắc phục được tình trạng trên cùng một tài sản thì người dân phải chịu sự đan chéo trách nhiệm dân sự khác nhau...
Hàng chục triệu hộ gia đình, cùng với đó là số lượng giao dịch dân sự không tính xuể, nếu cứ để nguyên thực trạng như hiện nay sẽ tiếp tục gây ra những phí tổn, rủi ro, bất ổn không chỉ trong mỗi gia đình, mà cho cả Nhà nước và xã hội. Sửa đổi như đã đề cập ở trên dù có phát sinh một số chi phí, nhưng lợi ích mang lại sẽ lớn hơn nhiều, đáng để được chấp thuận.