Du lịch di sản có trách nhiệm

Lê Thủy 07/04/2015 08:06

Các chuyên gia cho rằng, để phát triển du lịch di sản có trách nhiệm, cần đưa vấn đề bảo tồn di sản lên hàng đầu, có tầm nhìn dài hạn, dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng. Khách du lịch cũng có trách nhiệm để có thể khám phá vẻ đẹp tự nhiên và di sản văn hóa, đồng thời không để lại tác động tiêu cực tới di sản.

Theo một điều tra về du lịch toàn cầu, có tới 37% khách du lịch “có động cơ văn hóa” - dịch chuyển để thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu văn hóa. Khách tham gia hoạt động này thường thăm quan các di tích lịch sử, đền đài; tìm hiểu nghệ thuật; tiếp xúc với người dân tộc thiểu số hoặc đơn giản là đắm mình trong cuộc sống của dân bản địa để hiểu hơn bản sắc địa phương... Khách du lịch di sản văn hóa thường đi thăm nhiều nơi hơn 2 lần, ở lại lâu hơn 2,5 lần và chi tiêu nhiều hơn. Với nền văn hóa đa dạng, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển du lịch. Đến nay, nước ta có 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận, gồm các di sản văn hóa, thiên nhiên và di sản hỗn hợp (văn hóa và thiên nhiên); 7 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2 di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; 4 di sản tư liệu… Bên cạnh đó, có 34 di tích quốc gia đặc biệt, 3.168 di tích quốc gia, các báu vật quốc gia, di vật, cổ vật…


Phát biểu tại hội thảo Du lịch có trách nhiệm và di sản văn hóa, bà Dương Bích Hạnh, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam cho biết, di sản văn hóa là yếu tố quan trọng để thúc đẩy du lịch, thường được tận dụng tối đa trong các chiến lược, và tạo ra lợi ích cho nhiều bên liên quan. Ngược lại, du lịch góp phần phục hồi, bảo tồn di sản, đem lại lợi ích kinh tế và tăng cường đối thoại, trao đổi giữa các nền văn hóa. Tuy nhiên, du lịch cũng góp phần gây hư hại cho di sản. Thực tế, đã có rất nhiều di sản trước đây là của cộng đồng địa phương, nhưng dưới áp lực của du lịch, người dân thay đổi hành vi, tập quán, hình ảnh để phù hợp với thị hiếu của khách du lịch, dẫn đến mất bản sắc. Ngoài ra, đối với những di sản vật thể, những di tích lịch sử - văn hóa, di chỉ khảo cổ, việc có quá nhiều khách tham quan có thể gây hư hại nghiêm trọng. Tại Việt Nam, du lịch phát triển chưa thật sự đi đôi với bảo tồn di sản. Nhiều nơi, sản phẩm du lịch nghèo nàn, chất lượng thấp; nhiều hướng dẫn viên chưa hiểu biết thấu đáo về di sản... Hơn nữa, du lịch văn hóa chưa phát triển đồng đều giữa các khu vực, địa phương. Có khu vực đón được hơn 2 triệu khách/năm như Cố đô Huế, nhưng cũng có nơi lượng khách thăm di sản chưa tới 100.000 lượt như khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ.

Để phát triển du lịch di sản có trách nhiệm, theo bà Dương Bích Hạnh, cần đưa vấn đề bảo tồn di sản lên hàng đầu, có tầm nhìn dài hạn. Các đơn vị quản lý phải quy hoạch hiệu quả, bền vững di sản, đặc biệt là các di sản đã được thế giới công nhận, tăng cường đầu tư cho di sản. Về phía doanh nghiệp, nếu chỉ cố gắng khai thác mà không quan tâm tới bảo tồn di sản văn hóa thì chỉ trong 5 - 10 năm, các di sản này sẽ bị khai thác kiệt quệ. Mặt khác, khi tham gia du lịch có trách nhiệm, doanh nghiệp phải chia sẻ lợi ích, bằng cách thuê người địa phương, khuyến khích khách du lịch mua sắm sản phẩm địa phương. Doanh nghiệp cũng cần đóng góp thông qua mua vé, bởi tiền vé này sẽ được dùng để bảo tồn di sản. Ngoài ra, cần có sự phối hợp giữa Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng. Nếu không có điểm tựa vững chắc từ 3 đối tượng này thì rất khó để bảo đảm du lịch phát triển bền vững, và di sản văn hóa được bảo tồn lâu dài.

Ông Kai Partale, chuyên gia phát triển ngành của Dự án Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (EU-ESRT), trong hướng dẫn về du lịch có trách nhiệm liên quan tới du lịch văn hóa, nhấn mạnh các khía cạnh: nâng cao năng lực quản lý để lên kế hoạch và quản lý khối lượng khách viếng thăm cũng như thái độ và các tác động; tăng cường những tác động thực tế của doanh nghiệp lên nguồn lực di sản; giảm thiểu thương mại hóa và những yếu tố gây ra sự suy yếu và sụt giảm giá trị của nguồn lực di sản; giảm thiểu tác động tiêu cực từ các ngành kinh tế khác lên nguồn lực di sản; tăng cường hợp tác giữa các bên của địa phương tham gia tại các điểm du lịch văn hóa. Bên cạnh đó, cần phát triển các kỹ năng du lịch hướng đến cộng đồng địa phương như: nhận thức văn hóa, quản lý kinh doanh, quản lý/thiết kế trang web marketing; dịch vụ chăm sóc khách hàng, quản lý sự kiện, dịch vụ lưu trú, ăn uống và ngôn ngữ. Khách du lịch cũng phải có trách nhiệm với di sản văn hóa, không để lại tác động tiêu cực tới điểm di sản. Ông Kai Partale lấy ví dụ: việc tuân thủ quy tắc trang phục khi tới thăm các điểm du lịch tâm linh, khách du lịch thường vô tình ít nhận thức được ảnh hưởng của điều này và có khác biệt trong nhận thức giữa khách trong nước và khách quốc tế. Các đơn vị làm du lịch phải thông báo cho khách biết nên và không nên làm gì ở những điểm du lịch cụ thể, nâng cao ý thức bảo tồn di sản cho khách du lịch.

Việt Nam có nền văn hóa đa dạng. Tuy nhiên, nhân lực trong ngành du lịch Việt Nam cần có kỹ năng truyền tải những tài sản văn hóa đó một cách nguyên bản và lôi cuốn; xây dựng và định vị hình ảnh di sản văn hóa theo cách có trách nhiệm - ông Kai Partale khuyến nghị.

Lê Thủy