Đình Tây Đằng - bảo tàng nghệ thuật thế kỷ XVI
Đình Tây Đằng (Ba Vì) như một bảo tàng nghệ thuật của thế kỷ XVI và là di sản văn hóa độc nhất vô nhị của tổ tiên ban tặng cho các thế hệ con cháu hôm nay.
Đình làng Việt - văn hóa cộng đồng
![]() |
Đình Đoài - kiến trúc và tâm linh
Dân ta thường lưu truyền câu “cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài”. Ta thử tìm hiểu câu nói đó ý nghĩa ra sao mà âm vang đến thế?
Như đã biết, Nam Định - trấn Sơn Nam Hạ - là vùng đất mới, sông ngòi kênh rạch dọc ngang như mắt lưới giống vùng Đồng Tháp Mười, Nam bộ. Từ lâu nhân dân Nam Định đã biết bắc những chiếc cầu kiểu “thượng gia hạ kiều”. Trên mỗi cây cầu, người ta thường làm một mái che để bảo vệ cầu và làm nơi nghỉ cho người qua cầu lúc nắng mưa. Ngay làng Tri Lễ (Thanh Oai) quê hương các cụ nhà tôi cũng có một cây cầu như vậy. Tiếc rằng loại cầu này hiện không còn bao nhiêu nữa.
Ta lại thấy rằng, Bắc Ninh là vùng đất cổ, có nhiều chùa cổ được xây dựng lâu đời mang đậm ý nghĩa tâm linh, bản sắc văn hóa đặc biệt. Những ngôi chùa nổi tiếng như: chùa Dâu (thờ bà Chúa Dâu), xây dựng vào khoảng trước năm 187, vị thiền sư người Ấn đã trụ trì đầu tiên ngôi chùa này - chứng tỏ đạo Phật vào Việt Nam sớm hơn Trung Hoa khoảng trên 300 năm; chùa Tiêu Sơn, nơi Hòa thượng Lý Khánh Văn - em ruột nhà sư Lý Khánh Vạn tức Thiền sư Vạn Hạnh - đã nuôi dạy Lý Công Uẩn nên người và chính Người là đức Vua Lý Thái Tổ; chùa Phật Tích, xây dựng vào thời Lý Thánh Tông (1057), có pho tượng ngọc bích nguyên khối lớn nhất Việt Nam; chùa Giáng Long (nhân dân thường gọi là chùa Hàm Long), xây dựng thời Lê sơ giữa thế kỷ XV - Khái Hưng đã viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Hồn bướm mơ tiên tại ngôi chùa này... Chính những ngôi chùa nổi tiếng như vậy nên người ta ca ngợi “chùa Bắc” là hoàn toàn có cơ sở.
Xứ Đoài xưa còn gọi là trấn Sơn Tây hoặc trấn Hưng Hóa. Đình Đoài mang dáng vóc kiến trúc kỳ vĩ, ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Theo cuốn Di tích lịch sử Hà Tây, thì trên địa bàn toàn tỉnh có 820 ngôi đình đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Vùng núi Ba Vì có đền thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, Ngài là Sơn Tinh đánh bại Thủy Tinh trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh. Ngài dạy dân biết chế ngự thiên nhiên, đắp đê phòng lụt, gieo trồng cấy lúa phát triển sản xuất, đánh giặc ngoại xâm, là Đức Thánh Tổ của nền văn minh lúa nước. Ngài được nhân dân cả nước tôn thờ Đệ Nhất Phúc Thần. Để tỏ lòng thành kính, tri ân Đức Thánh Tản Viên Sơn, các làng ở hầu hết trong huyện Ba Vì cũng như trong vùng đất xứ Đoài xưa đều suy tôn Ngài là Thành Hoàng Làng và lập đình để thờ cúng, trong đó, đình Tây Đằng là tiêu biểu.
Bảo tàng nghệ thuật thế kỷ XVI
Đình Tây Đằng tọa lạc tại thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì (tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội) đã ngót 500 năm tuổi, được xây dựng vào thời nhà Mạc năm Đại Chính nhị niên (1531). Ngôi đình thờ Đức Thánh Tản Viên Đệ Nhất Phúc Thần. Toàn bộ khu đình nằm trên một khuôn viên rộng lớn, thoáng đẹp, hướng Nam dé Tây trông về đền Đức Thánh Tản trên núi Ba Vì. Đi qua cổng chính ta bắt gặp một hồ nước lớn, nơi giao hòa giữa trời cha đất mẹ dâng đầy linh khí. Tiếp đến nghi môn gồm bốn cột đồng trụ, hai cột thấp bên trên có hai nghê chầu, hai cột cao, bên trên mỗi đầu cột có bốn chim phượng uốn lượn vút lên như một bông hoa dành dành, thể hiện thế nghiêm thiêng của ngôi đình. Sau nghi môn là sân rộng, nơi tổ chức lễ hội vào dịp xuân về hoặc những ngày cúng tế. Hai bên sân có tả mạc, hữu mạc dẫn vào đại đình. Trước đây, thềm đại đình chỉ cao khoảng 40cm đủ một bước chân, sau khi trùng tu, thềm đã được nâng thành tam cấp cao 75cm. Sàn đình rộng 360m2, được bố cục kiểu ba gian hai dĩ với 6 hàng cột: hai cột cái, hai cột quân và hai cột con - đó cũng là nét đặc trưng của những ngôi đình cổ. Tất cả cột đều theo lối “thượng thu hạ thách” kiểu dáng bông đòng đòng và được ngồi trên chân tảng đá ong. Tất cả cột quân và cột con đều có xu hướng choãi ra, tạo thế mở rộng vùng chân nhằm tăng độ ổn định, bền vững cho công trình. Đỡ thượng lương là giá chiêng chồng rường kiểu “chồng nhị”. Gian chính giữa đình là sàn thờ Đức Thánh có cửa võng, y môn, lọng che, hai giàn bát bửu và đôi hạc chầu. Sàn thờ quanh năm đóng cửa, trừ những ngày lễ hội. Nhưng đông khách thăm viếng nên gian thờ lúc nào cũng nghi ngút khói hương, không khí thật trang nghiêm. Các gian hai bên còn lại được bố trí sạp ngồi của các quan viên trong những ngày lễ hội hay khi việc làng. Kết cấu được giữ nguyên theo kiểu nhà sàn của người Việt cổ nơi vùng sơn cước.
![]() | |
| Đình Tây Đằng | Ảnh: Hiếu Trần |
Khác biệt của đình Tây Đằng so với phần lớn các ngôi đình khác là không có ván thưng xung quanh, nhờ đó công trình trở nên thông thoáng hơn và bền vững với thời gian. Do đình thấp, người Việt cổ đã chọn kết cấu rất sáng tạo, mặc dù không có quá giang: việc liên kết cột cái với cột quân là chếnh bằng, trên chếnh bằng là chồng rường tạo độ dốc cho mái, bẩy kéo dài từ cột quân vươn dài đến tàu mái; chỉ có câu đầu liên kết cột cái, tiếp đến là chếnh bằng nối cột cái với cột quân; hệ thống xà thượng giằng đầu các cột cái, cột quân và cột con lại với nhau, cột con đỡ thẳng vào bẩy không qua ngàm, như vậy tạo cho bẩy không bị tiết diện giảm yếu khi liên kết với cột con làm cho công trình vững chắc hơn. Bí quyết của cấu trúc công trình được ổn định và bền vững là ở chỗ dùng mộng thắt đuôi én, ngàm và nêm chắc đầu cột cũng như các cột quân, cột con choãi chân thang ra ngoài. Đặc tính của công trình như vậy nên ngay cả sau khi đã tháo toàn bộ sạp và các xà chân cột, công trình hoàn toàn không suy chuyển gì, vẫn vững vàng cùng năm tháng.
Đình Tây Đằng có tới 1.300 họa tiết được chạm khắc tinh xảo, đậm nét tài hoa của những con người làm ra nó. Nét đặc biệt có một không hai của ngôi đình này là không chi tiết nào giống nhau từ họa tiết kẻ liền bẩy bốn góc, kẻ liền bẩy vì chính, đến các đầu dư đầu duôi, xà thượng, các chồng rường, bát đỡ, câu đầu, chếnh xối, ván nong... đều có hoa văn đẹp, mỗi hoa văn một kiểu. Các họa tiết hoa văn mang tính đặc sắc của các vùng miền văn hóa khác nhau như: họa tiết nông dân trồng cấy lúa của vùng đồng bằng Bắc bộ, quăng chài bắt cá của vùng sông nước miền duyên hải, đua thuyền của Nam bộ, chơi đàn tính tẩu của đồng bào Tày, Nùng, voi chầu của vùng Tây Nguyên, ngựa hí của vùng cao, đấu vật kéo co trong ngày lễ hội, cá vượt vũ môn hóa rồng, bộ tứ linh, trời mây hoa lá rất phong phú và hàng chục nữ thần cưỡi mây bay lượn trên bầu trời, các nữ thần được bố trí trên những đầu duôi khắp bốn phía sát mái ngôi đình. Hình tượng các nữ thần đầu quấn khăn và “Bà Banh” mang ý nghĩa phồn thực đậm phong cách của các nghệ nhân xứ Chăm pa.
Năm 2005, Bộ Văn hóa đã chủ trì việc trùng tu đình Tây Đằng. Cột gỗ mít và thông đỏ được thay thế bằng gỗ lim, các chân tảng bằng đá ong được thay bằng đá xanh. Chỉ còn một vài cột cái, cột quân và một phần cột con là cố giữ lại nguyên bản. Các họa tiết đặc biệt quý hiếm của đình Tây Đằng vẫn được bảo tồn nguyên giá trị vốn có. Việc trùng tu bảo đảm kỹ thuật tốt, bảo đảm độ vững chãi của ngôi đình. Tiếc rằng, toàn bộ cột được thay thế chỉ giữ lại được phần thượng thu hạ thách, còn dáng kiểu bông đòng đòng đã biến mất nên phần nào xa cách người xưa.
Đình Tây Đằng là sản phẩm đặc biệt độc đáo, đầy ắp di vật quý giá cả vật thể lẫn phi vật thể của ông cha để lại. Với những giá trị văn hóa, kiến trúc, chạm khắc tài hoa, sống động, đình Tây Đằng như một bảo tàng nghệ thuật của thế kỷ XVI và là di sản văn hóa độc nhất vô nhị của tổ tiên ban tặng cho các thế hệ con cháu hôm nay.

