Lênh đênh xa bến (Phần 3)
Truyện của Trần Thanh Cảnh

14/01/2015 08:41

>> Lênh đênh xa bến (Phần 1)

>> Lênh đênh xa bến (Phần 2)

Hồi ấy ở thành phố này có khu công nghiệp lớn do nước ngoài viện trợ. Sự cố rút chuyên gia, cắt viện trợ làm cho cả thành phố điêu đứng. Công nhân nữ trẻ không có nơi bấu víu âm thầm rủ nhau ra vườn hoa kiếm thêm.

Lần đầu tiên tao biết mùi là một đêm mùa hè nóng nực, trong cái dịp đi chặt nứa ấy. Tay Luyện, chuẩn úy trung đội trưởng rủ tao vào nhà một cô công nhân quen biết, ở khu tập thể lợp toàn lá cọ gần chỗ đường tròn trung tâm. Hôm ấy tao chi tiền nên được đi trước. Tuy là một thằng trai tân, nhưng những đêm lính tráng trong rừng hoang, tao đã được nghe bọn đồng ngũ kể nhiều về chuyện ngủ ngáy rồi. Có hôm sinh hoạt chuyên đề ban đêm là thằng nào đã từng biết mùi đời, thì kể chuyện lần đầu tiên như thế nào.

 - Nhưng sau đêm đầu tiên ấy, tao còn vào phòng cô ấy mấy đêm liền. Đêm cuối, sáng hôm sau chúng tao xuôi bè, cô ấy bảo tao là có dịp đi qua thành phố, cứ ghé vào chơi. Không cần tiền, không cần gạo, không cần nứa cũng được mà. Thế mà gần năm năm rồi không có dịp qua cái căn phòng bé xíu lợp lá cọ ấy nữa.

Lúc này trời đã tối hẳn. Một màn sương nhờ nhờ lại bao phủ khắp dòng sông, bến bãi.

Minh họa của Trung Dũng
Minh họa của Trung Dũng
Hai thằng trai chúng tôi cứ nằm dài trên bờ cỏ. Im lặng. Không thằng nào nói gì. Cũng không thằng nào muốn về nhà. Về thì cũng vậy, vài bát ngô om nhai trệu trạo với mấy miếng trám mặn chát. Rồi lên giường, đi ngủ. Không một ánh điện. Không một trang sách. Nói gì đến ti vi. Hai thằng chúng tôi đều cảm thấy bức bách, bế tắc như nhau. Bỗng tôi nhớ đến ông thày dạy môn Kinh tế - chính trị ở trường đại học. Một trong những ông thày mà tôi kính trọng nhất. Khi vào lớp giảng bài, thày không bao giờ giảng những điều trong giáo trình. Thày bảo, có gì mà giảng? Thày hay nói những câu chuyện thời cuộc ngoài lề. Một hôm thày bảo bọn sinh viên, các anh có lý giải được tại sao càng nghèo đói thì người ta càng đánh nhau hăng không? Là vì cuộc sống quá khốn khổ, củ khoai củ sắn, thậm chí là cháo cám, củ chuối. Một cuộc sống như thế thì đúng là sống như chết. Vậy có ai tiếc cái cuộc đời sống như chết rồi ấy không?

 Bỗng anh Vũ vùng dậy, nói: Này, tao với mày hai thằng ta làm một chuyến trở lại Long Sơn, trèo lên đỉnh Mã Tử đi. Có khi bọn mình kiếm được viên ngọc trời là đổi đời đấy.

Tôi cũng nhỏm dậy, nhìn anh Vũ, mắt anh ấy sáng rực long lanh trong bóng tối. Ừ, tại sao chúng tôi, hai thằng trai, trẻ trung tràn trề sinh lực lại nằm khàn chịu đói ở cái bến sông âm u này nhỉ? Có một đỉnh núi thiêng, có một điều hứa hẹn đổi đời đang đợi. Tại sao chúng tôi không dám thử vận mệnh mình? Dòng máu trai trẻ từ đâu chợt cuồn cuộn nóng hổi trong huyết quản, khiến hai thằng chúng tôi chỉ muốn đi ngay trong đêm. Đỉnh thiêng Mã Tử với viên ngọc trời cực kỳ quý giá, một cơ hội đổi đời đang vẫy gọi hai thằng trai quê chúng tôi.

 Tối hôm ấy, tôi nói với mẹ, mai tôi sẽ đi tìm kiếm tương lai hạnh phúc cho mình. Mẹ tôi chảy nước mắt, ôm vai tôi rồi thì thầm: “Chí nam nhi ở bốn phương, mẹ không ngăn trở con. Nhưng con có đi đâu, làm gì, thì cũng phải nhớ tới mẹ”. Rồi bà lần trong túi ra những đồng bạc nhàu nát đẫm mùi mồ hôi dúi vào tay tôi. Tôi cầm mà tưởng như muốn đứt từng khúc ruột. Tôi đã thầm hứa với mình lúc ấy, nếu tôi làm ra nhiều tiền, việc đầu tiên là tôi sẽ báo hiếu mẹ thật nhiều. Nhưng hỡi ôi, sau này tôi cũng có nhiều tiền thật, thì lúc đó mẹ tôi đã ra người thiên cổ từ lâu. Còn lúc này, tôi âm thầm quay đi. Tôi không muốn mẹ nhìn thấy những giọt nước mắt bất lực xót xa của mình.

 Và ngay hôm sau, chúng tôi lên đường.

 
***

 Khi chúng tôi đến bản Mền, chân đỉnh Mã Tử thì trời đã nhá nhem tối.

 Hai thằng quẳng ba lô lên tảng đá, rồi ghé đầu vào cái vòi nước đang róc rách chảy ra từ cái hang huyền thoại. Nước suối mát lạnh. Bụm tay uống một ngụm, tưởng như bao mệt mỏi đói khát tan biến theo dòng nước ngọt ngào thấm vào từng tế bào của hai thân thể đói khát. Bỗng có tiếng con gái run rẩy gọi: “Anh Vũ”. Rồi một người lao vụt ra, ôm chầm lấy Vũ. Tôi đoán đấy là Thùy. Đúng vậy. Vũ đứng yên cho Thùy hôn hít một lúc rồi gỡ tay nàng ra thong thả giới thiệu: “Đây là em anh ở quê lên cùng”. Thùy có vẻ ngượng ngùng, lí nhí chào rồi xăng xái xách ba lô cho anh Vũ đưa chúng tôi về nhà.

Bố mẹ Thùy rất vui.

Mẹ Thùy nói, từ hôm thằng Vũ về xuôi, con Thùy toàn ốm lửng, không làm ăn gì được, người hao đến mấy cân thịt.

Tôi không dám chắc là Thùy có hao người không. Nhưng tôi thấy người cô ấy cứ căng tràn ra. Rất xinh và rất vui. Má môi đỏ rực. Có khi là do uống khá nhiều rượu. Tôi thấy lạ. Chưa từng nhìn thấy con gái uống nhiều rượu như thế bao giờ. Anh Vũ thì chắc ở miền núi lâu năm nên thấy bình thường. Ở quê tôi, đàn bà con gái chả bao giờ dám uống nhiều rượu như thế. Cả làng chỉ có bà Sàng góa chồng ở đầu làng là hay rượu. Bà Sàng chết chồng năm hai mươi nhăm tuổi, ở vậy. Nuôi anh con trai duy nhất là Đôn, lớn, lấy vợ cho. Rồi anh Đôn, theo lời bà Sàng, gào hàng đêm “chỉ biết úp mặt vào vợ, không còn biết gì đến mẹ”. Mỗi tối bà Sàng nhâm nhi một be, đến khoảng mười giờ hết rượu là bà vừa phê. Bà bắt đầu cất cái giọng vang rền của mình. Bà chửi. Cả làng cùng nghe. Nhưng bà chỉ chửi con dâu, xong, bà chửi đến con trai, nên không ai can thiệp. Vả lại bà ấy là vợ liệt sĩ nên làng càng ngại. Mà nghe bà Sàng đêm đêm chửi con thành quen. Tôi đồ rằng, khi ấy cũng là một mục giải trí hàng đêm ở làng tôi. Thường thì bà Sàng ngồi ngoài sân chửi ầm ĩ. Còn anh Đôn cứ ôm vợ trong buồng, thỉnh thoảng kháy lại mẹ vài câu. Có hôm anh Đôn nói hỗn quá, bà Sàng gào rống lên: “Ối trời cao đất dày ơi. Tao mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày mới đẻ ra mày. Tao bóp mồm bóp miệng nuôi mày lớn bằng sào bằng gậy, để bây giờ mày cãi tao nhem nhẻm. Tao biết thế này, tao đẻ quả trứng tao ăn chứ đẻ ra mày làm gì. Ới con ơi là con ơi” ,“Ới rượu ơi là rượu ơi”, tiếng anh Đôn cũng gào tướng lên trong đêm. Vui ra phết. Sáng mai, mẹ con, bà cháu lại ríu rít như không có chuyện gì. Thiên hạ vẫn thái bình.

 Ở trên bản Mền thì phụ nữ uống rượu cũng nhiều như đàn ông, nhưng không thấy ai say sưa chửi bới. Uống xong, thấy họ xinh lạ, mắt long lanh.

 Uống xong trận rượu tẩy trần tối hôm ấy, ông Lửng gọi anh Vũ vào bàn nước, ngồi nói chuyện. Ông ấy bảo, con Thùy nó yêu mày quá rồi, thôi cho chúng mày cưới nhau, rồi ở luôn đây tao gây dựng cho.

 Ông ấy còn bảo, tuần trước mày về xuôi, không để lại địa chỉ, chứ nếu không con Thùy đã lồng theo rồi. Chiều nào nó cũng ra đầu bản, ngồi ngóng mãi đêm mới về.

Thế là anh Vũ có vợ. Trẻ, xinh.

Hôm nhà ông Lửng tổ chức đám cưới, tôi được phân công làm vai đại diện gia đình nhà trai. Mọi người đến chúc rượu, rất vui.

Đám cưới ba ngày, rượu chảy thành sông. Gà lợn bị vật vô số kể.

Đêm thứ ba mới là lúc làm lễ gia tiên để xin phép cho đôi trẻ động phòng hoa chúc. Tôi ngồi ở vị trí danh dự, nhìn anh Vũ sì sụp khấn vái, tí nữa thì không nhịn được cười. Chả cần thần linh thổ địa, ma xó ma nhà hay các cụ trên cho phép, chúng nó đã động từ lâu rồi. Mà thanh niên nam nữ vùng này động sớm lắm. Nhoằng một cái là lôi nhau vào rừng. Có giời biết.

 Lễ vừa xong, đôi tân hôn đang định dắt nhau vào phòng cưới, thì một tay thanh niên mặt mũi phừng phừng, cầm một con dao quắm dài to sáng loáng xông thẳng vào giữa nhà. Hắn vung dao bổ một nhát chẻ đôi cái bàn uống nước bằng gỗ lát hoa, rống lên: “Ông Lửng. Ông đã hứa gả cô Thùy cho tôi, nay ông lại cho cưới người khác là thế nào?”

Thói quen con nhà võ, tôi liếc rất nhanh mọi vị trí địa hình địa vật xung quanh để sẵn sàng thủ thế. Nhưng tôi lại nghe cái giọng gào quen quen. Tôi bước tới gần nhìn cho kỹ. Trời ơi, thằng Tư Thổ lớp K30 cử tuyển.

 Cái giọng rượu của thằng Tư Thổ thì không cứ tôi mà cả dân ký túc xá trường tôi đều quen. Nhừa nhựa, lơ lớ. Cứ mỗi kỳ thi, báo điểm, là Tư Thổ lại chìm vào men rượu giải đen vì nỗi thi trượt. Mà Tư Thổ giải đen thường xuyên nhưng trượt vẫn hoàn trượt. Chỉ béo bà bán ốc luộc với rượu ở vỉa hè ngoài phố, đêm nào cũng có Tư Thổ ngồi đồng với một chai sáu lăm. Cưa xong chai ấy thì Tư Thổ loạng choạng ra về. Vào cổng ký túc, chỉ cần gặp một ai đấy, hỏi một câu, là Tư Thổ bắt đầu gào toáng lên. Lúc Tư Thổ bỏ học, bọn ký túc cũng thấy bâng khuâng. Hơi nhớ. Vì Tư Thổ chỉ rượu mới gào lên thế cho xả bớt hơi men, chứ còn bình thường, nó rất lành. Nó cũng hay giúp đỡ mọi người, hay đãi đằng bọn tôi. Nghe nói, nó còn là một tay võ nghệ cũng khá.

Tôi lách mọi người đến gần, gọi: Anh Tư.

Tư Thổ nhìn lên, thoáng chút giật mình: Sao mày lại ở đây?

Thì ra đây là quê hương Tư Thổ. Ngày còn dưới trường, thỉnh thoảng đối ẩm cùng Tư Thổ, chỉ biết nó là người dân tộc vùng cao, vào đại học theo diện cử tuyển. Học mãi mà chả chữ nào chịu chui vào đầu, Tư Thổ bỏ về quê Long Sơn, bản Gà, cách bản Mền độ một con dao quăng.

Theo lời Tư Thổ thì chính ông Lửng đã nhận lời gả con út là Thùy cho Tư. Đám đàn em đi theo Tư Thổ xác nhận điều này.

 Ông Lửng tuyên bố là có chuyện hứa gả thật. Trong một trận rượu bên bản Gà hôm lễ rửa cày bừa ông có nói là gả. Nhưng ông cũng nói là con tao, nhưng đồ của nó, khéo mó thì được. Mày không mó được. Nó cho thằng Vũ mó. Thì giờ nó là vợ thằng Vũ thôi.

 Nhưng Tư Thổ lại nói là nó cũng mó rồi. Hôm Thùy đi nương về, gặp ngang đường, Tư Thổ đã sờ một phát. Tuy bị Thùy phang cho một cái đòn gánh, nhưng là đã sờ trúng rồi. Bọn đàn em của Tư Thổ cũng nói là đã sờ.

 Ông Lửng không công nhận. Ông bảo thế là mó trộm. Không tính.

 Anh Vũ tất nhiên là không chấp nhận. Anh bảo, thằng nào mà sờ vào Thùy thì hãy bước qua xác tao.

 Lời qua lời lại om sòm. Rượu ba ngày ròng rồi nên lời càng dài, càng nhiều lý lẽ. Tư Thổ nói cái lý của người bản Gà đã hứa là phải gả, không lôi thôi. Tư Thổ còn bảo đây là chân lý. Bọn đàn em vốn rất phục anh Tư từng đi học mấy năm dưới thủ đô, nói đúng rồi. Chân lý thì phải gả thôi.

 Một ông trong họ nhà ông Lửng nhảy bổ ra chỉ mặt Tư Thổ nói, mày đừng có lòe người. Chân lý chỉ là cái lý có chân. Nó đi từ chỗ này sang chỗ khác. Chân lý của mày ở bản Gà, đi sang bản Mền tao là khác rồi. Đừng có mà lên nước.

 Tôi đứng nghe mấy ông phê rượu cãi nhau mà váng hết đầu. Tôi nháy anh Vũ, kệ mẹ mấy thằng nát rượu, cứ mang vợ vào phòng mà ngủ. Tư Thổ nhìn thấy lại vung dao gào rống lên. Mấy thằng đàn em cũng phừng phừng dao búa trợ giúp. Cánh đàn ông con trai nhà ông Lửng cũng lăm lăm mã tấu. Tình hình có vẻ không ổn.

 Anh Vũ buông Thùy ra, đến trước Tư Thổ hỏi: Bây giờ ông muốn gì?

 Tư Thổ nói: Tôi với ông bây giờ phải đấu một trận, thằng nào thắng được vợ.

 Anh Vũ bảo: Được, quân tử nhất ngôn nhé.

 Thùy quát um lên: Tôi không là trò cười của các anh đâu nhé.

 Anh Vũ nói nhỏ vào tai Thùy: Yên tâm, thằng này phê rượu rồi, đứng không vững, chỉ nửa đòn của anh là gục. Em cứ vào buồng ngủ trước, anh về ngay.

 Cả đám cưới kéo nhau ra bãi cát bên bờ suối đầu bản chứng kiến trận tỉ thí chưa từng có. Trọng tài là một ông già quắc thước, nghe nói xưa cao thủ võ lâm nhất vùng Long Sơn. Luật là chơi tay không, được sử dụng mọi thế võ, bên nào bị đánh gục úp mặt xuống, mũi dính cát trước là thua.

 Giữa ánh lửa rừng rực của đuốc nhựa trám, hai đấu thủ nhảy vào nhau ra đòn ngay, không dền dứ. Tay nào cũng muốn hạ gục nhanh đối phương. Mọi thế đánh được tung ra. Hết Vovinam, Vịnh xuân quyền, Karate, võ Tàu, thậm chí anh Vũ còn lừa thế, tung một cú thôi sơn, móc ngược cánh cung vào hàm Tư Thổ. Thế mà thằng cha này vẫn chưa đổ. Chỉ hơi loạng choạng. Tư Thổ xoay người, phóng liền mấy cú liên hoàn cước vào mặt anh Vũ, rồi tung người, quặp chân vào cổ quật xuống. Cả hai vật xuống bãi cát, nhưng đang hăng, chồm vào nhau vật lộn, đấm đạp loạn xạ. Ông trọng tài tuyên bố dừng đấu để phân định. Soi đuốc vào mặt thì thấy tay nào cũng bầm giập, be bét máu, mũi dính đầy cát. Ông tuyên bố hòa. Nhà nào về nhà ấy.

 Sáng hôm sau, lúc tôi chưa ngủ dậy thì Tư Thổ đã đến nhà ông Lửng.

 Trông nó lại lành hiền như hồi còn lọ mọ cắp sách lên giảng đường. Nó ngượng nghịu bảo tôi, mày thông cảm nhé, nói anh Vũ bỏ qua. Đêm qua là do rượu vào nên thế, chứ thực lòng không có ý dám phá đám. Rồi nó mời tôi lúc nào sang bên bản Gà chơi, uống rượu. Lại rượu. Thực tình cuộc đời tôi sau này, rồi sẽ đi uống rượu khắp nước, uống cả ở nước ngoài, uống với đủ các hạng người. Nhưng tôi chưa từng thấy một người nào có sự thay đổi tính cách dữ dội trước và sau rượu như Tư Thổ. Không thể giải thích được.
 Thế là tự dưng tôi thành trai bản Mền.

 Tôi ở nhà ông Lửng, hàng ngày đi rừng, làm nương cùng vợ chồng anh Vũ. Từ ngày cưới vợ, anh Vũ chả nói gì đến chuyện lên đỉnh Mã Tử nữa. Mấy lần tôi sốt ruột, có ý nhắc thì anh bảo, cứ từ từ, đâu khắc có đấy.

Sống ở bản Mền, tôi thành một tay trai rất có giá, Thùy nói thế, vì tôi đã tốt nghiệp đại học hẳn hoi. Tư Thổ chưa bao giờ thi qua được môn nào, nhưng về đây nó vẫn được dân quanh vùng rất kính trọng, đàn em theo đầy. Dù gì thì nó cũng đã từng theo học mấy năm dưới kinh kỳ. Nhưng anh Vũ bảo nhỏ, gái ở đây tuy lẳng, hôn hít, hoa lá cành bên ngoài thì vô tư nhưng giã vào là xong, phải cưới đấy. Thế nên tôi rất đề phòng. Tối đến, tôi hay cùng bọn Tư Thổ đi chơi các bản, nhưng tuyệt đối tôi không rủ riêng em nào vào rừng. Tôi không muốn chôn vùi cuộc đời trai trẻ của mình ở cái xứ âm u này. Không hiểu sao, tôi vẫn có linh cảm là cuộc đời mình sẽ phải khác.

(Số sau đăng tiếp)