Giảng đường F (Phần 1)
Truyện ngắn của Tô Hải Vân
Giang bất ngờ quay sang tôi: “Này, ông có nhớ cái thằng cha ngồi ở góc giảng đường không?”
Phụ nữ thường đột ngột lôi một chuyện từ trên trời xuống. Nhưng trong trường hợp này, tôi biết Giang nói ai. “Nhớ. Sao?”
“Trông thấy gã ấy là thấy bất an rồi”, nàng nói.
Đúng. Thằng cha đó như cái bóng. Nhìn thật u ám.
Đó là một buổi bảo vệ luận án buồn tẻ. Bắt đầu vào lúc sáu giờ chiều. Dù máy lạnh chạy hết cỡ, nhưng trong phòng vẫn ngột ngạt. Bên trên, nghiên cứu sinh đang thuyết trình, giọng đều đều rất dễ gây buồn ngủ. Đề tài thì chán ngắt. Các thầy trong Hội đồng chấm luận án có vẻ như đang sốt ruột. Vì đói? Mệt? Những buổi bảo vệ muộn như thế này chỉ có lợi cho nghiên cứu sinh, vì thầy nào cũng muốn chóng xong để còn ra về. Tôi và Giang vì là nghiên cứu sinh năm cuối nên vẫn phải cố đi dự. Quy định là thế. Chúng tôi thường chọn ngồi ở hàng ghế cuối cùng, phía bên trái, chỗ ấy gần cửa ra vào phía sau nên thoáng hơn, cũng dễ chuồn hơn nếu thấy không thích nghe nữa. Tôi đang lơ mơ nghe câu được câu chăng thì bất đồ Giang cấu vào tay, chỉ cho tôi thấy một gã đang ngồi cũng hàng dưới cùng nhưng góc bên phải.
Nghịch lý ở chỗ, trong những buổi “trình diễn” như thế này lại có một thằng cha chăm chú nghe, thậm chí còn ghi chép vào tờ giấy đặt trước mặt. Và, lại ngồi ở một cái chỗ tối tăm nhất giảng đường?
![]() Minh họa của Đặng Hồng Quân |
Tôi nhún vai: “Kệ nó. Trong giới mình, thiếu gì những thằng kỳ quặc? Bà chẳng hạn, chắc chắn tồn tại một thằng nào đó bình luận về bà thế này: trông thấy bà là thấy bất an rồi… Hi hi”.
Chưa kịp vui thì đã bị ăn một cấu thứ hai. Lẩm bẩm: “Đã bảo bất an rồi mà”.
Tôi còn gặp gã mấy lần nữa. Lần nào cũng như lần nào, tôi đều thấy gã ngồi đúng chỗ ấy, tôi tối, và vẫn thế, nghe chăm chú, ghi chép đều đặn. Có gì mà ghi? Muốn đọc luận án thì lên Thư viện. Còn buổi bảo vệ chỉ là thủ tục, hoặc nghe các thầy phản biện cãi vã. Hình như gã cũng nhận ra tôi, kẻ chuyên ngồi hàng cuối phía đối diện, nhưng lại hay ngáp vặt. Có lần gã đã gật gù với tôi, vẻ thân thiện, ra cái điều cùng là dân thích chui vào xó giảng đường. Nhìn mãi thành quen, nhưng tôi chưa bao giờ giáp mặt được gã, vì cứ buổi bảo vệ sắp xong là gã đã biến đi đằng nào.
Lúc này, tôi và Giang đang ngồi ở quán cóc vỉa hè gần trường. Ngồi thưởng thức một ấm trà ngon bên cạnh cái cống, kể cũng vui vui. Gần đó là một lũ sinh viên đang ngốn trà đá. Tất cả đều chờ. Lũ sinh viên chờ đến tiết học muộn. Chúng tôi chờ buổi bảo vệ muộn.
Buổi chiều, Giang gọi điện: “Này, bảo vệ của tay N, có đi nghe không?” Tôi: “Không. Đang bận”. Giang: “Thôi nào, chiều phụ nữ một tý? Đi một mình buồn quá”. Tôi: “Lại gặp chuyện gì rồi à?” Giang: “Có thế mới nhờ đến bạn bè chứ”. Tôi: “Thôi được. Chờ nhau ở quán cóc mọi khi”.
Đến nơi, đã thấy Giang gọi ấm trà, mặt mày hớn hở. Bà này tính khí thất thường, không biết đâu mà lần. “Con Nhím thế nào?” - Nhím là con gái Giang. “Vẫn thế. Suốt ngày xù lông. Hôm nay gửi bà ngoại cho mẹ đi đú”. Giang ba mươi hai tuổi, không lấy chồng, biết cách niệm thần chú úm ba la thế nào đấy để có một con gái bốn tuổi. Khi con hai tuổi, nàng thét “Tự do muôn năm” rồi đi mua một căn hộ trong chung cư cao tầng ở riêng, thỉnh thoảng mời bà ngoại đến ở một tuần cho vui rồi mời bà về. Đã có đến sáu bài báo được đăng, vượt tiêu chuẩn, hiện đang hoàn thành luận án. “Viết xong chưa?” - Tôi hỏi. “Đang chán đây. Đang muốn vứt đi đây”. - Nàng nói, mặt mày vẫn hớn hở - “Nghe xong buổi này tôi mời ông đi ăn phở xào”.
Sáu giờ kém mười lăm chiều. Tôi và Giang rời quán cóc, đi về phía Giảng đường F.
Giảng đường F nằm phía sau Thư viện, Thư viện lại nằm bên rìa cái sân trường rộng mênh mông, nên khá khuất nẻo. Chẳng hiểu vì lý do gì mà năm nay trường toàn bố trí những buổi bảo vệ muộn. Cũng có thể vào cái giờ ấy các thầy trong Hội đồng mới đến đông đủ được.
Gần đến Thư viện, Giang cứ đi xán lại gần tôi. Chắc vì lúc này trời đã chạng vạng, những tia nắng còn sót lại nhuộm một màu buồn chán. Những cây to trên sân trường ngả nghiêng như những người khổng lồ, gió kêu rin rít, đèn đường đã lên nhưng nhợt nhạt. Thấy Giang cứ xán vào, tôi nghĩ bụng, bà này giời không sợ, đất không sợ, thầy không sợ, không biết có sợ ma không? Biết sợ thì vẫn còn là người tử tế. Tôi bảo: “Nghe đồn, giảng đường F có ma đấy”. Giang rúm người lại, chân nọ đá vào chân kia, tay túm lấy tay áo tôi, hổn hển: “Này, thật không đấy?” Tôi cười thầm, quyết trêu cho bà chằng này một trận. Tôi bịa: “Hồi xưa, có một thằng nghiên cứu sinh chăm lắm, học ngày học đêm, có khi qua đêm cả trong Thư viện. Thế rồi bỗng đâm ra lẩn thẩn, đi lang thang trong trường, một hôm người ta phát hiện ra hắn chết bên giá sách của Thư viện, bụng vẫn còn ôm lấy mấy quyển sách. Từ bấy giờ trở đi, thỉnh thoảng ban đêm người ta thấy có tiếng cười như nắc nẻ trong thư viện, sau đó là giọng nói rền rĩ (tôi dài giọng) ma trận nghịch đảo, xij, xij, xij…”. Đến đây thì Giang khuỵu xuống: “Thôi tôi đếch đi nghe nữa đâu. Ông đưa tôi trở lại quán trà đi”. “Không đưa. Muộn rồi. Tôi phải vào đây”. “Thôi nào”, Giang nằn nì, “Tôi sẽ cho ông ngủ với tôi một lần đấy…”. “Ai thèm bà…”. Tôi hơi hoảng, đưa Giang trở lại quán trà.
Khi chia tay, tôi nhận ra mặt nàng không còn hột máu, thấy hối hận, bảo: “Này bảo cho mà biết, tôi bịa đấy”. Nhưng Giang bảo: “Chắc thật đấy. Hình như có lần tôi thấy thầy tôi bảo có chuyện gì đó ở Thư viện…”. Tôi lại lên cơn trêu: “Ừ, hình như thầy tôi cũng có lần bảo cái Thư viện trường mình sở dĩ nó vắng teo là vì…”. “Tôi về đây” - Giang nói, rồi chạy như bay ra nhà để xe.
Các nhà khoa học là rất dễ dọa, tôi tủm tỉm cười, rồi ngược trở lại con đường tới Giảng đường F.
Lúc này ánh nắng đã tắt hẳn. Sân trường tối và âm u. Đến gần Thư viện, nơi đây lại có mấy bụi cây lúp xúp thỉnh thoảng lại ngả nghiêng vì gió thổi, dường như có người nào nấp trong đó tóc tai rũ rượi đang dán mắt nhìn, đến tôi cũng phát hoảng. Câu chuyện do chính mình bịa ra lại trở lại dọa nạt mình. Tôi tự nhiên rảo bước cho qua cái nơi này. Đi nhanh như gió. Nhưng đến gần Giảng đường F, tôi thấy lạ lẫm. Mọi khi vào lúc như thế này bên ngoài Giảng đường đã đèn đóm sáng choang, tiếng nói chen nhau, người đứng người ngồi. Nhưng bây giờ im ắng lạ lùng, chẳng có bóng người nào, có mỗi ngọn đèn trần là sáng, mà cái ánh sáng ấy cũng vàng vọt một cách rất đáng ngờ. Tôi lại gần, thấy một cái bảng mica nhỏ dựng ngay cửa ra vào. “Buổi bảo vệ hôm nay: HOÃN”.
Chuyện chưa từng xảy ra. Có cái quái gì mà phải hoãn? Chỉ có mấy khả năng: nghiên cứu sinh lăn đùng ra ốm, chủ tịch hội đồng ốm, và cả hai phản biện đột xuất cùng không đến được.
Mất thì giờ quá. Tôi rút thuốc lá ra hút.
Bỗng nhiên, có tiếng nói trầm trầm nho nhỏ phát ra ngay sau tôi: “Thèm thuốc quá, ông có thể cho tôi xin một điếu?”
Tôi giật mình. Đã tưởng chỉ có mình mình?
Quay lại. Lại chẳng thấy ai. Sợ đến thót cả tim. Nhìn quanh, chỗ nào cũng thấy như bóng tối dịch chuyển, lắc lư. Tôi quăng cả bao thuốc lá xuống đất, quay người nhanh chóng rời khỏi khu quái gở này.
*
* *
Hôm sau, Giang gọi điện: buổi bảo vệ của tay N đó bị hoãn vô thời hạn. Ông có biết vì sao không? Không. Dừng một lúc. Tôi nhờ ông một việc. Nói đi. Ông dẫn tôi đến Thư viện rồi qua Giảng đường F nhé? Không. Đang bận. Đang dở tay làm cho xong cái danh mục tài liệu tham khảo. Thôi nào, chiều tôi một chút, tôi sẽ cho ông… Thôi thôi khỏi nói, nhắc lại, bà chán chết. Vậy lúc nào nào? Bây giờ. Vậy tôi đợi bà ở quán cóc.
Khi tôi đến, Giang đã ngồi đấy rồi. Nàng đã kịp gọi một ấm trà, nhâm nhi trà thơm bên miệng cống. Nàng nhoẻn miệng cười rất tươi. Cái cười này tôi thuộc. Ấy là khi nàng muốn nịnh nọt ai đó làm cho nàng một việc gì đó. Hồi đầu tiên quen Giang, nàng cũng “phô diễn” cái cười đó với tôi khi nàng muốn mượn tập tài liệu tôi kỳ công mượn được từ một thằng đi Mỹ về. Sau này khi đã kết bạn thân với nhau, tôi bảo Giang, này bà đừng có bao giờ giở cái cười đó ra với tôi nữa nhé. Thế cười với ông phải như thế nào? Ha ha hay hu hu?
Giang là người lúc nào cũng chỉ muốn làm ngay lập tức khi có ý tưởng nảy ra trong đầu. Nếu tôi không nhầm thì Giang đã ba lần phá bỏ luận án để bắt đầu lại từ đầu. Một con người can đảm. Nhưng làm cho thầy hướng dẫn bực mình. Vậy cô muốn gì? - Ông thầy hỏi, Giang kể lại, lúc đó thầy có vẻ tức lắm rồi. Nàng trả lời tỉnh bơ, dạ thưa thầy, đến bây giờ em cũng chẳng biết mình muốn gì nữa, nhưng những cái em viết ra là không thể ngửi được ạ. Tôi đã từng phá lên cười khi nghe nàng kể như thế, và nàng bảo, ông có biết vì sao tôi chơi với ông không? Bởi vì ông và thầy ông cùng quái đản như nhau.
Lại nói về thầy tôi, giáo sư Q. Tôi nghe tiếng ông từ hồi còn sinh viên, đó là một thầy giỏi nhưng lập dị. Có lần ông từ chối hướng dẫn khoa học cho một vị đứng đầu một tỉnh cũng đang làm luận án ở trường này, một việc mà nhiều người thèm muốn. Tôi nghĩ, lập dị tôi không sợ, cái quan trọng là giỏi, vì thế tôi chọn đề tài sao cho rất gần với lĩnh vực nghiên cứu của thầy. Khôn lỏi mà. Thế là người ta phân công ngay cho thầy phụ trách hướng dẫn khoa học cho tôi.
Bọn nghiên cứu sinh các khóa trước bảo, mày ngu thế, làm nghiên cứu sinh của ông Q thì lĩnh đòn no đủ đỡ phải ăn cơm. Hai mũi giáp công, một bên ông ấy hành mày, bên kia các thầy khác sẽ soi luận án mày như soi vi trùng. Xin đổi sang thầy chủ nhiệm khoa đi, hoặc cao hơn, xin hẳn thầy hiệu trưởng hiệu phó, không ông phản biện nào dám có ý kiến. Tôi chỉ gật gù.
Sau khi thi minimum, tôi đến gặp thầy nộp đề cương sơ bộ. Tôi hỏi, bây giờ em phải làm gì? Thế là thầy cáu. Ông bảo, này thanh niên, sắp thành nhà khoa học, chả lẽ cậu không thể tự định đoạt xem cậu phải làm gì à, mà phải nhờ tôi định hướng? Thôi về. Ông đuổi. Tôi gật gù. Rồi chào thầy, vâng, hiểu, em về ạ. Ra đến cửa, ông gọi lại. Này thanh niên, tốt, vậy cậu muốn gì thích gì? Ngẫm nghĩ một lát, tôi nói, rất thật thà, em quả thật chỉ thích chơi. Vậy cậu chơi đi. Thế là tôi rong chơi suốt năm đó…
Ấy ấy, mở ngoặc nhé, đấy là thiên hạ đồn đoán vậy thôi, vì cứ thấy tôi rong chơi, giáo sư Q cũng rong chơi suốt. Dần dần tôi mới hiểu triết lý của thầy. Có lần ông bảo: chân đi, óc nghĩ, đó là đang sống; còn lúc cậu hứng lên chiêm nghiệm cuộc đời, đó là lúc cậu đang tiêu hóa để sống đấy. Giọng rất giống một ông bác sĩ khoa tiêu hóa. Vì thế, nên rong chơi, phải không ạ? Ông thầy cười, a a, cậu này nối nghiệp mình được đấy, tao có phúc rồi.
Có lần ông triệu tôi đến, tưởng có chuyện gì ghê gớm, không ngờ ông chỉ nói: Này, có một bài toán kinh điển dành cho trẻ con, tên là “Tuổi thuyền trưởng”, tôi giao cho cậu giải nhé: “Trên tàu thủy có 45 con cừu, 5 con bị rơi xuống nước. Hỏi ông thuyền trưởng bao nhiêu tuổi?” Đề bài thật tuyệt. Luận án đấy cậu ạ. Toán học ứng dụng được cả cho văn học. Thôi đi về. Đúng là ông thầy kỳ quặc.
Ông hành tôi đủ kiểu, nêu đủ loại câu hỏi mà chẳng bao giờ thèm trả lời. Có vẻ, hỏi là việc của ông, còn trả lời là việc của tôi, mặc xác mày.
Giang bảo, ông cứ thu thập đủ câu hỏi của thầy cũng đủ dùng cho đến hết đời. Tôi bảo, nếu biết thế, thế nào thầy cũng than vãn, ôi ôi tao vô phúc rồi. Giang bảo thầy nào trò ấy, quái đản như nhau. Mà này, cái chuyện hôm nọ ấy, có thật ông bịa không? Thật, tôi khẳng định. Quái quỷ. Vậy ta đi.
(Số sau đăng hết)
