“Hạnh phúc trả bằng nhiều đau khổ” (Kỳ cuối)
Ý Nhi
>> “Hạnh phúc trả bằng nhiều đau khổ” (Kỳ 1)
***
Cảm giác này rất gần với cảm giác khi tôi đọc các trang văn của ông. Tôi nhớ, khi trả lời câu hỏi phỏng vấn của một nhà báo vì sao ông không viết tiểu thuyết, Trang Thế Hy đã nói rất giản dị: “Cái tạng của tôi nó vậy”. Vâng, cái tạng của ông là viết truyện ngắn nhưng những truyện ngắn của Trang Thế Hy lại thật dài. Dài, không phải vì số chữ, số trang (có truyện lên đến bốn mươi, năm mươi trang sách) mà chính là, bởi những gì mà mỗi truyện ngắn của ông mang chứa trong nó. Những truyện ngắn này không phải là một lát cắt của đời sống (theo quan niệm thông thường) mà chúng có dung lượng của một cuốn tiểu thuyết được nén chặt lại trong khuôn khổ truyện ngắn. Chính Trang Thế Hy, khi nói đến cuộc đời của nghệ sĩ Hai Nhạn trong Một nghệ sĩ đã phải nói: “Nó là một quyển sách, không phải một đoạn văn”. Và không phải chỉ có Hai Nhạn. Thu, một nhân vật nữ rất đẹp trong truyện ngắn Mưa ấm, khi tranh luận với người bạn trai đã nói: “Mỗi con người có lịch sử của mình”. Các nhân vật của Trang Thế Hy đều có một lịch sử dày dặn, dài dặc, đan xen hạnh phúc, đau khổ, may mắn, bất hạnh, vui sướng, tủi cực… đủ để thành những nhân vật của tiểu thuyết. Ba Hường (Nợ nước mắt), Tư Chơi (Chút hào quang từ mảnh vỡ của một ngôi sao buồn), Diên (Về nhà trước cơn mưa), Khôi (Sách và chim), Hai Nhạn (Một nghệ sĩ), Thu và Diệp (Mưa ấm), Châu và Hữu (Vết thương thứ 13)… và một nhân vật rất đặc biệt, nhân vật xưng Tôi (lúc là nhà thơ, lúc là họa sĩ, lúc lại là soạn giả cải lương)… đều là những nhân vật của “một quyển sách”. Bằng vào lối kể chuyện điềm đạm, chậm rãi, nhờ vào giọng văn đầy kiềm chế, nhờ những chỗ “rẽ ngang” tài tình sang những nhánh khác của số phận, nhờ những chỗ dừng lại khéo léo cho các nhận xét, các bình luận xác đáng của người kể... mà các nhân vật của ông vẫn đi lại, trò chuyện, vui buồn, yêu thương, hờn giận, vẫn sống thực sự trong khuôn khổ của một truyện ngắn. Và, chính sự nén chặt này đã đem lại cho các thiên truyện hiệu quả nghệ thuật khôn lường. Nó tạo nên một vị thế đặc biệt cho các truyện ngắn Trang Thế Hy.
![]() Nhà văn Trang Thế Hy qua nét vẽ của họa sỹ Nguyễn Trung |
***
Trong một lần trò chuyện lan man, Lê Minh Khuê và tôi nhắc đến các tác phẩm của nhà văn đang được chú ý. Khi tôi tỏ ra băn khoăn, cảm thấy các truyện ngắn, truyện dài của vị này hình như còn thiếu một điều gì đó, Lê Minh Khuê cho rằng, các trang viết ấy thiếu sự ám ảnh, hết truyện là hết. Đó quả là nhận xét xác đáng của một nhà văn, một người làm biên tập văn xuôi kỳ cựu. Tôi đọc Trang Thế Hy nhiều lần và cũng nhiều lần nghĩ đến sự ám ảnh mà các sáng tác của ông đem lại cho mình. Thế nhưng, rất khó để có thể nói cho rạch ròi những điều gì, những yếu tố nào tạo nên sự ám ảnh, tạo nên dư vị, dư cảm trong các truyện ngắn của ông. Phải chăng đó là những quán nghèo ế khách, những vỉa hè của người vô gia cư, những chiều chuyển mưa, những vòm trời đầy mây, những dòng sông mênh mông, những cánh rừng thâm u, những đêm hát bội ở miền quê… Phải chăng đó là những người phụ nữ “đẹp mà buồn”, thường có nước da trắng mét, có “nét buồn bạc mệnh trên khuôn mặt độc đáo mang dấu ấn định mệnh”. Những Loan, Châu, Thu, Ba Hường, Hai Nhạn… cách nào đó đều là những nàng “tiên mắc đọa” (chữ của Trang Thế Hy) giữa cuộc đời cực nhọc, cơ khổ này. Phải chăng đó là những số phận “sự đời không tròn trịa, trơn tru”, dù trong cuộc chiến hay giữa đời thường. Những Hữu, Diên, Diệp, Thảo Khôi, Tư Chơi… đều đã trải qua những thử thách đau đớn và không mấy ai hạnh phúc. Có người cho đến khi cận kề cái chết vẫn còn dằn vặt, còn tự vấn lương tâm (Diên trong Về nhà trước cơn mưa). Phải chăng đó là những ngẫm ngợi, những đúc kết sâu sắc, chân xác và cũng… buồn, kiểu như “mỗi người trong đời mình chỉ được ngủ ngon trong một số lần nào đó được quy định rất chặt” hay: “Muốn biết chiến tranh là cái gì, người cần hỏi ý kiến, người cung cấp định nghĩa chính xác nhất không phải là các vị nguyên thủ quốc gia, các chính khách lẻo mép và các vị thống chế tổng tư lịnh không bị bom đạn làm mất miếng da nào… Hỏi vợ anh, chị anh, em gái anh, cô anh, dì anh… nói chung là hỏi những người phụ nữ đẻ con cho thiên hạ đem đi nướng…” hoặc: “… Chính vì nỗi khát khao niềm vui của người đời mà hai chữ “mua vui’ của thi hào Nguyễn Du để kết thúc truyện Kiều, theo tôi là tuyệt diệu… Vì sao cái nhu cầu mua vui nó bức thiết đến như vậy. Vì cuộc đời này vốn buồn. Tất cả mọi sản phẩm tưởng tượng từ trần Minh khố chuối, cậu Hai Miêng bị lãng quên trong khoảnh khắc cho đến Ulysses, Antigone, Don Quichotte được lưu hành muôn thuở, suy cho cùng cũng là để mua vui tuốt luốt hết… Anh thấy chưa, những tay trứ danh trong thiên hạ (dù thật hay bịa) thường là những con người buồn”… Và, sau cùng, phải chăng là “cái giọng trầm xa xôi của người độc thoại” (thường là người già, người đã đi gần hết đoạn đường đời của mình) đã không ngừng nhắc đi nhắc lại với ta, qua từng thân phận, từng cảnh huống, cái quan niệm: “... người nào nói cuộc đời này buồn, người đó nói một sự thật, không lạc quan, bi quan gì cả” (Một nghệ sĩ buồn thích đùa).
Dịp cùng nhà thơ Chim Trắng đưa đoàn làm phim của VTV3 về Bến Tre làm chân dung Trang Thế Hy, chúng tôi ở lại khá lâu. Ông Tư (các bạn trong đoàn đều gọi ông như vậy) rất quý nhà thơ Bảo Chân và các bạn trẻ từ Hà Nội vào. Có hôm ông còn nhờ con gái làm mồi nhậu rồi đãi cả đoàn rượu ổi, do ông tự ngâm. Thấy ông vui, trò chuyện nhiều, tôi nói với ông các suy nghĩ của mình, đúng ra là, các câu hỏi của mình về sự “ám ảnh” lâu nay vẫn ám ảnh mình. Ông lặng im nhồi thuốc vào ống vố, cầm chặt nó trong những ngón tay gầy guộc, không châm lửa, mắt nhìn đến một nơi nào đó. Rồi bất ngờ quay lại: “Này cô, thỉnh thoảng cháu nội tôi lại hỏi, bà bạn mặc áo đỏ của ông nội sao lâu không thấy về” (ông muốn nhắc tới bức ảnh ông chụp chung với đoàn nhà báo từ Sài Gòn về thăm. Trong ảnh, tôi mặc chiếc áo màu đỏ). Rồi ông cười lớn, bỏ lỡ câu chuyện.
Những lúc cao hứng (tiếc là rất hiếm hoi), Trang Thế Hy nói nhiều và nói rất hay về văn chương, về Lỗ Tấn, về Hemingway, về Gorky, về Dostoievsky, về Tolstoy, về Stefan Zweig, về Nguyễn Du, về Nguyễn Gia Thiều, về Nguyễn Đình Chiểu… Ông đọc thơ tình yêu của Tagore, ông bắt mọi người cùng thưởng thức giọng hát của cô đào Pháp mà ông yêu mến qua chiếc máy hát đã cũ rè của ông. Thế nhưng Trang Thế Hy gần như không bao giờ nói về chuyện đời, chuyện văn của chính mình. Có ai gợi chuyện, ông im lặng hoặc bắt sang chuyện khác. Có lần, nhân lúc trò chuyện vui vẻ, thân mật, tôi hỏi ông, giọng nửa đùa nửa thật: “Trong truyện ngắn Vết thương thứ 13, nhân vật Hữu chịu vết đau trên thân thể một cách nhẹ nhàng nhưng đã không thể đứng vững trước vết thương thứ 13, vết thương tình cảm. Anh Tư đã có khi nào ngồi tính đếm, phân loại các vết thương của đời mình không”… Trang Thế Hy dụi điếu thuốc đang hút dở vào chiếc gạt tàn rồi giữ yên tay trên mẩu thuốc, im lặng khá lâu. Giữa lúc tôi chờ đợi một cú “ngoặt” bất ngờ của ông thì ông cất lời, giọng rất nhỏ: “Đâu có gì đáng nói đâu cô”. Vậy mà những trang viết của ông, số phận các nhân vật của ông, chất chứa biết bao cảnh ngộ, biết bao tâm trạng, đã hằn sâu biết bao vết thương - những vết thương khó có thể tính đếm, khó có thể gọi tên, khó có thể chữa lành.
Mặc dù vậy, Trang Thế Hy là một con người hạnh phúc, theo cái định nghĩa về hạnh phúc của chính ông, trong truyện ngắn Một nghệ sĩ: “Gặp hạnh phúc là người nào trong tuổi già vẫn còn giữ được nguyên vẹn tình yêu của mình đối với cái gì mình đã yêu thương từ thuở ấu thơ. Niềm hạnh phúc đó, đương nhiên là phải được trả giá bằng rất nhiều đau khổ”.
| Nhà văn Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, sinh ngày 9 tháng 10 năm 1924, quê quán ở Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, làm cán bộ văn hóa thông tin, tuyên huấn; từng bị địch bắt giam năm 1962. Sau ngày đất nước thống nhất, ông sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh hơn mười lăm năm, về hưu năm 1992, rồi ẩn cư tại quê hương Bến Tre. Nhà văn Trang Thế Hy còn có các bút danh khác: Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái, Văn, Minh Phẩm. Ông là một trong những nhà văn đương đại hàng đầu của văn chương Nam bộ nửa sau thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Ông từng là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chủ tịch danh dự Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre. Một số giải thưởng văn học: - Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam (1960 - 1965) cho truyện ngắn Anh Thơm Râu Rồng. - Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 với tập truyện Tiếng khóc và tiếng hát. - Tặng thưởng loại A của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2001 cho tập truyện Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác… |
