Giúp doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ hợp pháp

Minh Vân lược ghi 26/05/2014 17:13

Thảo luận về dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi), một số ý kiến cho rằng nếu không sửa đổi luật sẽ không giải quyết được thực tế là doanh nghiệp “chết” mà không “chôn” được. Luật hoàn toàn không khuyến khích phá sản doanh nghiệp mà tiếp cận theo hướng làm sao giúp doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính trong kinh doanh và bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ hợp pháp bằng thủ tục phá sản...

ĐBQH Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình): Cá nhân một người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay không?
 

Về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động và công đoàn, tôi cho rằng ở đây có 2 nội dung cần được làm rõ: thứ nhất là cần làm rõ người lao động có quyền nộp đơn như thế nào? Cá nhân một người lao động có quyền nộp đơn hay không? Hay đây là quyền của tập thể người lao động với một tỷ lệ nhất định và những người lao động này phải cử những người đại diện để nộp đơn như quy định của luật hiện hành. Nếu quy định cá nhân người lao động có quyền nộp đơn thì làm sao phân biệt và tránh được sự lạm dụng giữa trường hợp tranh chấp về tiền lương giữa doanh nghiệp và cá nhân người lao động với việc doanh nghiệp mất khả năng thanh toán? Nếu quy định đây là quyền của tập thể lao động thì cần phải quy định về trình tự thủ tục cử đại diện như quy định của luật hiện hành. Bên cạnh đó cần cân nhắc việc có nên tiếp tục quy định quyền của người lao động trực tiếp nộp đơn hay không? Người lao động thực hiện quyền này thông qua công đoàn, quy định như vậy cũng phù hợp với quy định của Luật Công đoàn cũng như Bộ luật Lao động mà QH mới thông qua.

Nội dung thứ hai là cần làm rõ trong trường hợp người lao động cũng như công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì họ sẽ có phải nộp lệ phí phá sản hay không? Theo quy định của dự thảo thì người nộp đơn phải nộp hai khoản tiền: thứ nhất là lệ phí phá sản; thứ hai là tạm ứng chi phí phá sản. Dự thảo luật chỉ quy định rõ người lao động công đoàn không phải nộp tạm ứng chi phí phá sản và các quy định khác của dự thảo nói trong trường hợp không nộp lệ phí phá sản thì tòa án không thụ lý. Tôi đề nghị cần phải quy định rõ người lao động công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì không phải nộp lệ phí phá sản như quy định hiện hành. Hiện nay chúng ta quy định khoản tiền này 1.000.000đồng.

Vấn đề thứ hai, có một số quy định của dự thảo còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn hoặc chưa đầy đủ. Tôi đơn cử một vài ví dụ, ví dụ về thẩm quyền của tòa án. Tại Điểm a, Khoản 1, Điều 8 quy định: Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản trong trường hợp người tham gia phá sản ở nước ngoài, người tham gia phá sản ở nước ngoài là một khái niệm rất không rõ. Thứ nhất, chỉ có khái niệm người tham gia thủ tục phá sản. Thứ hai, thế nào là người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài. Khái niệm này bao gồm những người đi công tác, đi du lịch ở nước ngoài hay không, hay họ phải là người định cư ở nước ngoài, là người nước ngoài...

Thứ ba, việc xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án theo đặc điểm của người tham gia thủ tục phá sản sẽ rất bị động và phức tạp, vì nhiều trường hợp những người này chỉ phát sinh khi mà tòa án đã giải quyết vụ việc. Ví dụ vụ việc lúc đầu được xác định thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện và trong quá trình giải quyết lúc đó mới xác định danh sách chủ nợ và công bố danh sách chủ nợ và sửa đổi danh sách này. Lúc đó mới phát sinh ra chủ nợ là người nước ngoài, người ở nước ngoài chẳng hạn thì như vậy lúc đó phải chuyển thẩm quyền giải quyết của tòa án sẽ rất phức tạp…

 

ĐBQH Dương Hoàng Hương (Phú Thọ): Không nên coi việc doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán, trì hoãn thanh toán khoản nợ đến hạn là căn cứ để ra quyết định mở thủ tục phá sản

 

Thứ nhất, về quy định áp dụng Luật Phá sản tại Điều 3, Khoản 2 điều này quy định trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật Phá sản và quy định của luật khác về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật phá sản. Tôi cho rằng quy định này chưa phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và có xu hướng tuyệt đối hóa giá trị pháp lý của Luật Phá sản so với các văn bản pháp luật khác có cùng thứ bậc hiệu lực pháp lý. Bởi vì Điều 83 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định: "Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành và có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau". Do đó, tôi đề nghị không quy định Khoản 2 với nội dung như vừa nêu ở Điều 3 của dự thảo.

Vấn đề thứ hai, về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, quyết định tuyên bố phá sản. Tôi nhất trí với quy định trao cho Viện kiểm sát nhân dân quyền kháng nghị các quyết định này nhằm cụ thể hóa và bảo đảm quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân; cụ thể hóa nguyên tắc kiểm soát quyền lực đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, đồng thời để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện được đầy đủ, thực chất quyền kháng nghị nói trên, đề nghị bổ sung vào dự thảo luật các quy định cho phép Viện kiểm sát nhân dân có quyền tham gia hội nghị chủ nợ và được Tòa án gửi các quyết định về thay đổi quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, các ý kiến kết luận giám sát của thẩm phán, của quản tài viên trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.

Vấn đề thứ ba, về căn cứ ra quyết định mở thủ tục phá sản tại Điều 42, dự thảo quy định chỉ cần có 1 trong 2 căn cứ thì tòa án sẽ ra quyết định mở thủ tục phá sản. Một trong các căn cứ đó là doanh nghiệp hợp tác xã không thanh toán, trì hoãn thanh toán khoản nợ đến hạn. Quy định này theo tôi là chưa phù hợp bởi các lẽ sau. Thứ nhất, việc không thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán nợ thể hiện ý thức, thái độ chủ quan không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp, của hợp tác xã. Điều này khác hẳn với trường hợp doanh nghiệp hợp tác xã bị rơi vào tình trạng không thể thanh toán được khoản nợ đến hạn để bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Do 2 trường hợp nói trên khác nhau, xét về ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, cả về những tác động, hậu quả mà mỗi trường hợp có thể gây ra cho xã hội, cho nên không thể chọn chung một cách ứng xử của nhà nước, của pháp luật đối với cả 2 trường hợp này. Vì vậy, với những trường hợp doanh nghiệp hợp tác xã không thanh toán, trì hoãn thanh toán khoản nợ đến hạn thì không nên mở thủ tục để giải quyết theo trình tự phá sản. Trong trường hợp này thì chỉ nên quy định hướng dẫn chủ nợ về quyền khởi kiện vụ án dân sự hoặc kinh tế và sử dụng trình tự tố tụng dân sự hoặc kinh tế để giải quyết vụ việc cho đúng với bản chất thực của vấn đề cần giải quyết. Thứ hai, nếu vì lý do doanh nghiệp hợp tác xã không thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán mà mở thủ tục phá sản thì vô tình lại giúp cho doanh nghiệp hợp tác xã kéo dài thời gian trì hoãn trả nợ một cách hợp pháp. Bởi vì thời gian từ khi mở thủ tục phá sản đến khi phải thanh toán khoản nợ đó kéo dài qua khá nhiều thủ tục, trình tự mà luật đã quy định. Thứ ba, nếu mở thủ tục phá sản chỉ vì căn cứ doanh nghiệp hợp tác xã không thanh toán, trì hoãn thanh toán khoản nợ đến hạn thì có thể sẽ có một số không nhỏ các vụ việc tuy phải mở thủ tục phá sản theo căn cứ này, nhưng thực chất thì hợp tác xã, doanh nghiệp không hề rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tức là không rơi vào trạng thái phá sản thực tế, nhưng vẫn phải có một khoảng thời gian chịu sự điều chỉnh của các quy định của Luật Phá sản, bị hạn chế một số quyền trong sản xuất, kinh doanh cho tới khi chắc chắn sẽ được đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo Điểm a, Khoản 2, Điều 86 của dự thảo. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp của hợp tác xã, đồng thời cũng làm lãng phí thời gian và công sức của các cơ quan tố tụng và người tham gia tố tụng khác, không bảo đảm được định hướng, mục tiêu, ý nghĩa của việc sửa đổi Luật phá sản muốn hướng tới.

Với các phân tích trên, tôi đề nghị không coi việc doanh nghiệp hợp tác xã không thanh toán, trì hoãn thanh toán khoản nợ đến hạn là căn cứ để ra quyết định mở thủ tục phá sản.

 

ĐBQH Trịnh Thị Thanh Bình (Bến Tre): Kết quả ủy thác tư pháp của tòa án nhân dân Việt Nam đối với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài còn thấp

 

Điều 117, dự thảo Luật Phá sản quy định việc ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân Việt Nam đối với cơ quan thẩm quyền của nước ngoài có ghi: "Trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân thực hiện ủy thác tư pháp theo Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại. Thủ tục ủy thác khác tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tương trợ tư pháp Việt Nam. Quy định này tuy hiện nay thống nhất với Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Tương trợ tư pháp hiện hành. Song trên thực tế áp dụng thì tính khả thi không cao, do việc ủy thác tư pháp đạt kết quả rất thấp. Nên hiện nay trong giải quyết án dân sự, án kinh doanh thương mại có nhiều vụ án phải tạm đình chỉ kéo dài để chờ kết quả ủy thác tư pháp mà không biết đến chừng nào và cũng chưa có hướng mở ra. Đây là vấn đề rất bức xúc cho cơ quan tố tụng ở địa phương. Tại địa phương chúng tôi hiện nay cũng đang giải quyết thủ tục phá sản cho một doanh nghiệp và cũng đang gặp khó khăn, phải kéo dài thủ tục do chờ kết quả ủy thác tư pháp cho một số chủ nợ với một món nợ không lớn nhưng đang ở nước ngoài. Dự thảo luật không quy định quyền lợi của những người có liên quan trong thủ tục phá sản ở mức độ nào thì phải ủy thác tư pháp, có nghĩa là quyền lợi dù lớn, dù nhỏ nằm trong đối tượng quy định ở Điều 116 thì tòa án khi thụ lý vụ việc phá sản đều phải làm thủ tục ủy thác tư phá phá sản và đều phải chờ kết quả ủy thác tư pháp mới tiến hành giải quyết được.

Trên thực tiễn kết quả ủy thác tư pháp của tòa án nhân dân Việt Nam đối với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì thấp, đang ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước là người có quyền và nghĩa vụ chính trong các vụ án dân sự, thương mại và đối với việc thi hành Luật phá sản cũng trong tình trạng này, tức là chúng ta chờ đợi kết quả ủy thác tư pháp có khi của một người với một quyền không phải là chi phối nhưng rất nhiều tổ chức, cá nhân phải chờ và kéo dài không biết đến chừng nào. Đây là vấn đề rất hệ trọng và nếu như không có hướng mở thì sẽ làm giảm hiệu lực, thậm chí trong một số trường hợp sẽ làm vô hiệu quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị QH xem xét bổ sung quy định tại Chương XI về giải quyết trường hợp ủy thác tư pháp có yếu tố nước ngoài, trong trường hợp do chưa có hiệp định tương trợ tư pháp hoặc không ứng xử theo nguyên tắc có đi có lại hoặc ủy thác nhưng không có kết quả hoặc chậm có kết quả thì nên quy định trong một thời hạn nhất định, ví dụ như 3 tháng, 6 tháng, tức là theo một thời gian hợp lý thì phải cho tòa án quyền tiến hành thủ tục phá sản để bảo vệ quyền lợi của số đông là tổ chức, cá nhân trong nước. Trường hợp sau khi tuyên bố phá sản nếu tổ chức, cá nhân là người nước ngoài được phân chia tài sản chưa nhận thì giao cho cơ quan thi hành án quản lý tại tại khoản thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Đối với trường hợp phá sản doanh nghiệp là tư nhân, thành viên hợp doanh của công ty hợp danh của công ty hợp danh thì giải quyết theo Khoản 1, Điều 110 dự thảo luật về quyền đòi lại tài sản chưa được thanh toán theo quy định của thủ tục tố tụng dân sự để bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân đa số ở trong nước.

 

ĐBQH Trần Du Lịch (TP Hồ Chí Minh): Nếu không sửa đổi luật sẽ không giải quyết được thực tế là doanh nghiệp “chết” mà không “chôn” được

Thứ nhất, nếu không sửa đổi luật này, chúng ta không giải quyết được thực tế là doanh nghiệp “chết” mà không “chôn” được. Luật này hoàn toàn không khuyến khích phá sản doanh nghiệp. Luật này tiếp cận theo hướng làm sao giúp doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính trong kinh doanh và bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ hợp pháp bằng thủ tục phá sản. Tôi dẫn chứng, hiện nay có tình trạng, bởi vì luật này tiếp cận trên dòng tiền chứ không tiếp cận trên tài sản, luật cũ là tài sản, luật này là dòng tiền. Vì tình trạng tài chính của một doanh nghiệp thể hiện ở 3 báo cáo, một là cân đối tài sản, hai là báo cáo lời lỗ, ba là chu chuyển dòng tiền. Có nhiều doanh nghiệp mà thực tế ở Việt Nam kinh doanh rất có lãi nhưng vay vốn ngắn hạn, đầu tư trung, dài hạn khấu hao không đủ. Ví dụ bất động sản lấy tiền người ta góp xây nhà đi mua đất, khủng hoảng không trả được, do dòng tiền quản lý yếu kém và gây thiệt hại cho xã hội, luật này răn đe việc đó. Thành ra luật này khi quy định không nhầm lẫn, mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 25 nhưng tuyên bố phá sản tới Điều 105, chúng ta có tới 80 điều để phục hồi doanh nghiệp, để giải quyết quyền lợi, để hội nghị khách hàng, để thỏa thuận và phục hồi doanh nghiệp, cho tới chẳng đặng đừng doanh nghiệp thực sự không có khả năng thanh toán nữa mới tuyên bố phá sản, quá chặt chẽ, QH đừng lo chuyện này. Từ Điều 25 tới Điều 105 phải tuyên bố, dường như chúng ta nhầm lẫn là cứ nộp đơn mở phá sản là đã phá sản, tôi giúp anh phục hồi, tôi hội nghị khách hàng, tôi hội nghị các chủ nợ để có thể chuyển nợ thành vốn phục hồi, không còn con đường nào nữa mới tuyên bố phá sản thì quá chặt chẽ. Tôi đề nghị đây là vấn đề chúng ta phải thống nhất, tôi nghĩ để Thường vụ Quốc hội cân nhắc, nếu không chúng ta lại trở lại luật cũ thì không ý nghĩa gì.

Về vấn đề bổ sung, tôi nói lại là cách tiếp cận về khả năng thanh toán là tiếp cận trên dòng tiền, chứ chưa bàn đến tài sản. Do đó, tôi đề nghị cân nhắc 2 chỗ. Một chỗ liên quan đến người lao động đề nghị cân nhắc cho kỹ và tiếp thu. Thứ hai, Điều 42, chúng ta đang nói về dòng tiền lại nói về tài sản thì chỗ này phải cân nhắc lại cho kỹ. Chúng ta chưa bàn tài sản, chưa định giá. Tôi chỉ tính khả năng trả nợ, chỗ này là chỗ mấu chốt, tôi đề nghị cân nhắc 2 điểm đó.

Minh Vân lược ghi