Những giới hạn tại xứ cờ hoa
Lâu nay, chính giới và doanh nhân Mỹ thường nói về họ như miền đất của thị trường tự do. Nhưng thực chất, vẫn có những giới hạn ở xứ cờ hoa bởi những lý do nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia hay yếu tố chính trị.
Mỹ hiện dẫn đầu thế giới về thu hút đầu tư nước ngoài. Lãnh đạo các doanh nghiệp làm ăn tại đây thường cười nhạo chính sách bảo hộ của các nước khác. Theo họ, chính phủ không được phép can thiệp vào công việc làm ăn của các tập đoàn tư nhân. Theo Mitchell Marks, một chuyên gia về sáp nhập và mua bán cổ phần thuộc Đại học San Francisco, trong môi trường kinh doanh ở Mỹ thống trị quan niệm rằng thế thượng phong sẽ thuộc về những người bỏ thầu cao nhất, chứ không phải do chính giới quyết định. Vì thế, những thương vụ kiểu Ngân hàng Softbank của Nhật Bản năm ngoái đã mua đứt Sprint - tập đoàn kinh doanh điện thoại di động lớn thứ ba của Mỹ, hay Smithfield Foods đã trở thành tài sản của một nhà đầu tư Trung Quốc sau thương vụ 7 tỷ USD không phải là những đợt sóng thần trong giới làm ăn tại Mỹ. Nói cách khác, sáp nhập, mua đứt bán đoạn các tập đoàn là hiện tượng thường nhật tại nền kinh tế số một thế giới.
Tuy bề ngoài có thể coi đây chỉ là các thương vụ làm ăn giữa các “đại gia” với nhau, song trên thực tế, với những trường hợp cụ thể, luật pháp Mỹ - hay giới chức Nhà Trắng – vẫn có những công cụ để kiểm soát tình hình. Tức là vẫn có những giới hạn cho các chính sách mở của Washington trong hoạt động của các tập đoàn. Lý do đầu tiên xuất phát từ sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, nhưng lý do lớn hơn – đó là an ninh quốc gia, đặc biệt là đối với các giao dịch liên quan tới các tài sản được coi là liên quan đến an ninh quốc gia hoặc hạ tầng then chốt theo định nghĩa của luật pháp hiện hành. Trong những trường hợp này, các tập đoàn muốn đấu thầu mua bán hoặc sáp nhập phải qua một cửa ải là Ủy ban Đầu tư nước ngoại tại Mỹ (CFIUS). Ủy ban này với thành viên là các chuyên gia đến từ Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và các cơ quan tình báo nội địa có trách nhiệm thẩm định hồ sơ đấu thầu, năng lực của các nhà đầu tư, lĩnh vực kinh doanh và tiềm lực của các đối tác sáp nhập… Quá trình thẩm định này có thể kéo dài tới 75 ngày và quyết định cuối cùng có cho phép tiến hành thương vụ hay không phụ thuộc vào đánh giá của CFIUS. Ủy ban có thể yêu cầu các bên liên quan điều chỉnh các điều khoản hoặc trong một số trường hợp thực sự nghiêm trọng, CFIUS trình hồ sơ lên tổng thống với khuyến cáo thận trọng ở mức cao nhất.
Tháng 9.2012, Tổng thống Barack Obama đã cấm các công ty của Trung Quốc mua lại các khu sản xuất phong điện tại Oregon với lý do những cơ sở này nằm gần một căn cứ quân sự của Mỹ. Ông Samuel Thompson, tác giả cuốn sách “Fusion, Acquisition and Tender Offers”, đây là một quyết định đơn phương và không thể đảo ngược của chính quyền. Và đây cũng là quyền không thể đảo ngược của Nhà Trắng can thiệp vào công việc của các tập đoàn.
Không dừng ở lý do an ninh quốc gia, nhiều thương vụ tại Mỹ bị ngăn cản vì lý do chính trị. Các thương vụ liên quan tới những nước có quan hệ nhạy cảm với Mỹ như Nga hoặc Trung Quốc thường xuyên bị gây sức ép. Năm 2006, mặc dù đã được Nhà Trắng “bật đèn xanh”, song đối mặt với sự phản đối của Quốc hội, tập đoàn DP World của Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất (UAE) đã buộc phải từ bỏ thương vụ điều hành sáu hải cảng tại Mỹ, trong đó có một hải cảng ở New York. Những ý kiến phản đối nêu lý do rằng hai trong số những kẻ thực hiện các vụ tấn công khủng bố 11.9.2001 là công dân UAE. Trước đó, năm 2005, tập đoàn dầu khí quốc gia của Trung Quốc CNOOC đã phải rút khỏi thương vụ mua lại hãng dầu khí Unocal. Sau đó, tập đoàn này lớn tiếng rằng họ là nạn nhân của bầu không khí chính trị bao trùm Washington và rằng nên kinh tế Mỹ không tự do và mở như chính giới tung hô. Năm 2008, quỹ đầu tư Bain Capital có quan hệ làm ăn với tập đoàn Huawei của Trung Quốc đã buộc phải rút ý định mua lại hãng công nghệ cao 3Com của Mỹ sau khi CFIUS tỏ ý không hài lòng.
Theo Cơ quan Nghiên cứu của Quốc hội Mỹ, việc các thương vụ sáp nhập, mua bán công ty bị giới chức giám sát là nguyên nhân khiến bữa tiệc của các nhà đầu tư nước ngoài tại Mỹ kém phần ngon miệng. Cơ quan này cho biết từ năm 1990 đến nay, giới chức Mỹ đã hủy bỏ hơn một nửa các thương vụ kiểu này có yếu tố nước ngoài mà không đưa ra những giải thích cụ thể. Lý do chung nhất là những thương vụ này có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia Mỹ. Trước thực tế này, các chuyên gia nhận định khái niệm thị trường tự do cũng là khái niệm tương đối tại Mỹ và vẫn luôn tồn tại những giới hạn riêng cho giới kinh doanh tại xứ cờ hoa.