CHỊ DỤNG
Truyện ngắn của PHAN CUNG VIỆT

05/12/2013 08:41

Khi tôi tìm đến thì người anh rể chỉ còn như một bộ xương nữa thôi. Khó nhất cho bệnh viện lúc này là việc truyền đạm, huyết thanh và làm các thủ thuật y tế. Người ta vừa rút dây truyền ra. Anh rể tôi, với một ý chí còn sót lại, chống tay vùng dậy giữa hai người đàn bà. Bất chợt tia máu từ vết kim truyền lâu này gần như vỡ vụn cả ven, phun thẳng ra. Máu người bệnh lúc này đỏ vàng rất khó tả, vừa giống nước bã trầu, vừa giống nước nâu non. Tôi kêu lên: “Cả dưới ga nữa này”. Vết đỏ vàng loang lổ. Hai người đàn bà từng trải nhiều đau khổ, nhanh như cắt, đưa bàn tay nắm lấy chỗ ven vỡ. Máu vẫn chảy thành giọt. Tiếng thất thanh: “Cậu chạy xin cho bông và băng dính”. Tôi tái mặt, lao ra khỏi phòng bệnh.

Minh họa của Thúy Hằng
Minh họa của Thúy Hằng
Hai người đàn bà nói đây là chị Dụng, chị gái của anh rể tôi và vợ anh, tức chị gái tôi. Tôi xin bông băng chạy vội về thì “khúc đê vỡ” vừa hàn xong. Chị tôi mở bàn tay đầy máu, đưa mắt lườm anh rể tôi một cái, rồi thay bông và nẹp băng dính rất cẩn thận. Mặt chị như chàm đổ. Chị Dụng cũng mở bàn tay đầy máu, toan đưa lên lén lau nước mắt. Hai người đàn bà, hai cái nhìn khác nhau. Chị Dụng từng trải lấy lại được sắc mặt gần bình thường, chớp đôi mắt đang ướt lên nhìn tôi vừa gượng nở một nét cười buồn dịu dàng vốn là nét riêng của chị: “Cậu nhanh quá”. Nói rồi cúi nhanh xuống. Rồi chị vội đi giặt khăn và rửa tay ở phòng có vòi nước phía sau...

Tôi lạ lùng nhìn dáng cao gầy của chị. Người khác chắc không thấy, chị gái tôi chắc không thấy, chỉ tôi mới tự biết bản thân mình lúc này thôi. Thương cảm mênh mông và xa lạ quá. Tiếng vòi nước bệnh viện chảy như nghẹn ngào, từ phòng trong vọng ra. Tiếng nước dội vào xô nhựa cũng rất lạ, khàn đục và trễ nải khác thường. Tất thẩy như đang chậm dần lại, đến tắc hoàn toàn. Chị Dụng bước ra, mắt vẫn còn đỏ.

Bây giờ tôi mới nhìn thật rõ chị. Ngoài sáu mươi, tóc chị bạc gần hết, tấm áo dệt màu nâu bạc nhô lên một nếp lưng dài, còn rõ cả sống lưng. Tấm lưng gầy guộc ấy cứ xán đến chực đỡ cho anh rể tôi. Anh rể tôi đến tuổi hưu, tóc cũng bạc, đã chuyển sang mầu đất sạm trắng, mắt cứ nhắm nghiền lại. Anh còn tỉnh, lúng túng và quờ quạng không biết quay mặt vào đâu, giữa hai người đàn bà. Chị Dụng thều thào bên tai tôi, chỉ đủ tôi nghe: “Gan sưng to lắm rồi, cậu ạ”. Chị gái tôi thì im bặt, không nói gì. Chị chỉ lo làm sao thay cho nhanh cái ga, kẻo bẩn và nhìn thì thê lương quá.

Hai chị đều là gái Đức Thọ, sông La. Con sông La xanh biếc chảy mềm mại như dải lụa, trong cả vùng Đức Thọ như một mảnh vườn xanh sót lại giữa gió Lào. Gái sông La được nết được người. Họ được nhận cái tính tình của các bà xưa quay tơ dệt lụa, dù đến các chị thì không canh cửi nữa. Ai cũng chịu thương chịu khó, trau dồi đức hạnh, hay lam hay làm. Chỉ tội gần như ai cũng vất vả, gần như truân chuyên, như con thuyền nan trôi dạt trên các bến sông. Ai sinh ra trước thì vất vả trước, cứ thay nhau như món nợ đồng lần. Tuy cảnh ngộ mỗi người một khác, cách thương cách cảm của họ cũng khác.

Cả hai chị đều là chị cả. Các cụ bên ấy sinh hạ được một đàn con. Các cụ bên tôi cũng vậy. Chị cả của những gia đình đông các em, có vô khối chuyện để mà kể về họ.

Trước tiên kể về chị Dụng. Tuổi con gái nghe đâu chị là y tá của một đơn vị quân đội. Bấy giờ chiến tranh vang động đến tận các làng quê nghèo khổ xa xôi. Ai cũng hăng hái đi làm nghĩa nước. Con gái cũng vậy. Xưa các mẹ các bà làm lụng canh cửi, trọng chữ nghĩa chống cường quyền. Thậm chí họ tham gia mài gươm đúc súng cùng nam giới. Lứa tuổi như chị hào hùng. Tôi còn nhớ cái ảnh đen trắng nhỏ xíu thời con gái của chị, áo quân phục, hai bím tóc, nụ cười và hàm răng thật là tươi tắn.

Nhiều anh lính cảm chị. Nghe đâu nhiều anh đi lại mòn đường nhà ông bà. Cùng xóm có anh như anh Tường cứ mê mẩn chị. Sau anh đi bộ đội làm đến “ông to” vẫn không chịu lấy vợ. Mãi sau này anh vẫn thương chị.

Cái mốc bảng vàng có từ các cụ, các bà, các mẹ rồi đến các chị. Lứa chị gái tôi gần đây, vừa qua mái trường xã hội chủ nghĩa, đã có nhiều cái khác đi. Thành thử lớp sau đến lứa chị Dụng vẫn là công dung ngôn hạnh hơn cả. Chị như là lứa sót lại cuối cùng. Lứa chị có nhiều nét nền nếp các cụ các bà xưa, nhưng lại mới. Người mới nhưng dường như vẫn có nếp áo tứ thân xưa. Lứa chị có gì đó cam chịu nhẫn nại như người xưa, nhưng khi cần thì cũng quật khởi. Lứa chị có học, có hiểu biết nhất là sự học qua trường đời, nhưng không tỏ ra tinh tướng như nhiều cô sau này. Bao giờ lứa chị cũng gắng hết công suất của đời mình, nhưng cốt là để làm nền cho chồng, cho em, cho con cái. Tuyệt vời khi có một thế hệ xếp đúng được vị thế của mình trong cuộc đời, trong sự sống vô cùng vô tận này. Họ không bao giờ bước lạc đường thế hệ khác, và cũng không bao giờ đứng nhầm sân nhầm chỗ của mình.

Hồi đó người bệnh đang nằm kia là một chàng trai đẹp, duyên dáng. Tức là muốn nói quãng đời anh sắp làm anh rể tôi. Anh bước vào vị trí làm anh của tôi thật đẹp. Là loại cán bộ mới có chữ nghĩa, anh được phân phối chiếc xe đạp Thống Nhất nữ xinh xắn, còn quý gấp mấy xe Dream xe cúp bây giờ. Bấy giờ, mới đặt vấn đề, anh để xe cho chị tôi đi học. Một buổi chị Dụng có việc tìm đến, tỏ ý mượn xe có chút việc. Mẹ tôi nổi cáu: “Thì em chị cũng phải có cái xe để mà ‘câu’ con gái thời nay chứ”. Vậy mà chị không hề giận.

Duyên phận đến, chị lấy chồng rồi sinh một đàn con. Thật kỳ lạ, cuộc sống bấy giờ khó khăn đến thế, chiến tranh khốc liệt như thế, mà chị ở đâu là chúng tôi tìm đến đó. Mà sung sướng gì cho cam. Cái số chị thường ở nơi xa khuất, khó tìm, khó đi. Ở phố, chị ở sâu sau một cái gò, đường đi lầy lội, đầy vết xe pháo và than bụi. Đến chị, chỉ ăn rau lang và mấy con tép ao chị bắt về. Đến chị, thường buổi mưa dầm, đi về gần như cảnh trời tối. Vất vả mấy, chỉ cần nghe một tiếng “cậu” từ cuộc sống kham khổ gian truân của chị là vui rồi. Bà ở quê thường bảo: “Có con mà gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng đem cho”. Vậy mà cái số chị lại lấy chồng xa. Đời chị như một cánh chim trời. Dạo nhà chị chuyển lên tận cùng Thuận Thành, đi về có trăm cây số đường đất lầy lội, qua mấy bến đò. Những con đường hoa xoan khẳng khiu đến nao lòng. Bãi dâu dằng dặc. Lên với chị, được thấy bãi chợ bến sông, được hít thở hương cây hương trời hương đất. Qua một bến đò chiến tranh, hồn vía lên tận ngọn cây. Vậy mà vẫn tìm đến chị. Một ý nghĩa thật là thơ ngây: chị ở xa đường đất, cách trở đò giang. Nhưng như thế thì dù bận mấy cũng không thể về ngay, được ở qua đêm trong ngôi nhà và tình cảm của chị.

Cái số chị ở nhà thì xa, lấy chồng xa. Ai mà biết trước được. Bể dâu và lịch sử ở ngay trong tình duyên của chị. Chị ở tận sông La, lấy anh ở tận sông Mã, Thanh Hóa. Cũng là tình yêu trong đạn lửa. Nhưng cũng như mọi làng quê khác ở cái dải đất này, từ xửa từ xưa, qua chinh chiến binh đao, các họ hàng gốc tích chạy tán loạn có khi từ bên Trung Quốc sang. Rồi lại binh đao, người ta quy gốc rễ. Anh chồng chị vốn họ gốc từ bên Trung Hoa, các cụ chạy sang đây từ nghìn năm trước. Vậy là anh lận đận, chị càng lận đận. Có hồi chị chuyển chỗ ở, đã xa lại càng xa. Chỉ dịp ấy chúng tôi không tìm đến với chị được.

Bây giờ tôi ngồi giữa hai người đàn bà, hai người chị. Một tóc đã bạc gần hết, tức chị Dụng và một đang bạc hết đầu, tức chị gái tôi. Cạnh đó là người anh rể bệnh nặng sắp qua kiếp khác, nằm quay lại, viên lấy lưng tôi như một quãng đê lầy lội sắp vỡ. Hai người đàn bà, hai người chị cũng rất khác nhau. Chị Dụng ngồi sát bên tôi, luôn miệng nói một câu vô cảm: “Thế nào cậu?” Một câu hỏi trong bệnh viện, giữa trời đất. Chị gái tôi thì im thin thít, cặp mắt mệt mỏi đầy những suy tính xa xăm. Kể đàn bà thương em thương chồng có muôn cách khác nhau. Chị gái tôi từng hết lòng chăm tôi bên giường bệnh. Người chị nào chẳng thương em. Nhưng có người chị thương em như mẹ thương con, tức chị Dụng. Có người thương em trong sự lạnh lẽo, không rơi nước mắt. Có người chỉ như người bộ hành trên chuyến tàu khổ hạnh cuộc đời. Có người chỉ như là sự đòi nợ cuộc đời. Đời bảo cậu trả nợ cho cha mẹ, cho chị, đời hình như chỉ có một người mẹ, còn có đến nghìn người chị. Chẳng người chị nào giống người chị nào. Nếu thử xếp loại thì loại một, tức chị Dụng.

Trong cơn hấp hối của người em ruột đó, tức anh rể tôi, chị Dụng như càng ngồi gần tôi hơn. Từ người chị toát ra một hơi vừa nóng vừa lạnh đến khó tả. Em hiểu chị. Chị đang ngồi đây, nhưng hồn chị đang trải qua những giây phút gian truân. Chị sống bằng tâm linh, và chính tâm linh đang bủa vây chị. Người chị nào sống bằng tâm linh thì thường thương em út và khổ cả kiếp người. Chị đưa tay sờ tóc tôi, sờ vai áo, tay áo của tôi như vô cảm. “Cậu ơi, liệu cậu Đệ nhà mình có sống được không cậu?” Câu ấy cứ lặp đi lặp lại, giữa những tiếng đánh lưỡi chặc một cái, nghe đến lạnh cả người. Thỉnh thoảng chị đưa tay lay khẽ vào người anh rể tôi, rồi đứng vụt dậy, đi ra đi vào đầy vẻ vùng vằng bất ổn. Trong cơn không bình thường của người chị, tôi đọc thấy một lời thỉnh cầu tha thiết cho sự sống của em trai mình. Cậu ơi, cậu phải sống. Trời sinh ra chị em là để em được sống mãi bên chị. Đó là lời hiệu triệu tối cao của người chị, phát ra sau người mẹ.

Hôm nay, tôi mặc chiếc áo màu cỏ úa đầy những túi, có túi phồng to lên, chị Dụng đưa tay quờ quạng và hỏi mơ hồ: “Gan cậu Đệ sưng to lắm. Cái gì đây cậu?” Tôi nói thật với chị là chiếc võng dù từ hồi ở Trường Sơn, đem về để nếu cần thì trực đêm luôn thể. Cái võng từng gắn bó trong những giây phút ác liệt nhất của cuộc đời. Chị Dụng hiểu ý, xua hai bàn tay: “Các buổi tối, để chị trực cho, cậu ạ...”

Trời vào nắng chiều gay gắt, tôi mệt mỏi, không muốn lết đi đâu nữa, ra phía mấy tán cây to, gần nhà xác. Mắc võng vào bờ tường và thân cây, nằm nhìn những tán lá đỏ như máu. Bất chợt choang một cái, hai chiếc xe cúp đâm nhau, hai người văng ra mềm nhũn. Tốp người nào đó vô tâm thét lên: “Xong chưa?” Rồi cười đến man rợ. Một cô gái bất chợt đi qua, nhìn tôi nằm võng và khen: “Thật mỹ mãn, chú nhỉ?” Mỹ mãn là mỹ từ người thời nay lại thích dùng không ra khen người, không ra nhạo người, cốt nói cho sướng mồm mình. Câu nói cũng vô tâm, có ý khen tôi nằm võng thảnh thơi. Tôi bất chợt ứa nước mắt, hệt như những giọt nước mắt ban nãy của chị Dụng.