SẾP TỔNG (Phần 1)
Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh

03/12/2013 08:40

Ngày 12 tháng 12 năm 2012.

Sếp Tiến, Tổng giám đốc Tổng công ty Hà Lạng làm giỗ đầu cho bố, tại quê, làng Ngọc. Phải ghi rõ ngày tháng năm như trên vì đây cũng là một sự kiện lớn. Mà dân làng bàn tán xôn xao, suốt chín mươi mốt ngày sau đó mới thôi.

Minh họa của Thúy Hằng
Minh họa của Thúy Hằng
Bố đẻ sếp Tiến, vốn cũng là một người có chức khá trên bộ. Về hưu đã lâu. Chết năm ngoái, thọ bảy mươi nhăm tuổi. Tiếng là bố sếp Tiến người làng Ngọc, nhưng rất lâu, dân làng chẳng thấy mặt ông ấy. Cái nhà ngày xưa các cụ để lại cho, chỉ thấy hai mẹ con sếp Tiến âm thầm nuôi nhau. Đến khi lớn, đi học đại học, rồi thành đạt, giàu có, sếp Tiến cho người về quê xây lại cơ ngơi to lắm, tòa ngang dãy dọc, toàn bằng gỗ lim. Lại cho làm cả sân vườn bể cảnh rất đẹp… Nhưng cũng không thấy bố sếp ló mặt về. Người làng kể, không biết có đúng không, là bố mẹ sếp Tiến cưới hồi đang đánh nhau với Mỹ. Cặp ấy cũng thuộc diện trai tài gái sắc, đẹp đôi. Cưới xong vài hôm, bố sếp Tiến phải đi chiến trường. Mẹ sếp Tiến là cô giáo cấp hai trường làng, ở nhà đẻ ra sếp Tiến bây giờ. Có điều là bà mẹ sếp Tiến đẹp lắm. Gái một con. Chồng đi vắng mà cứ rờ rỡ như bông hồng nhung, thì làm sao mà không có đàn ông ong ve nhòm ngó. Bố sếp Tiến đóng bộ đội công binh ở đường Trường Sơn, nên cũng phong thanh nghe được tin đồn. Chả biết thực hư ra sao. Gửi thư về tra vấn vợ: “Thằng Tiến có phải con tôi không?” Mẹ sếp Tiến, vốn là con nhà danh giá, hàng tiểu thư, bị nghi ngờ phẩm hạnh, cay lắm: “Không phải con ai, nó là con giời”. Hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại. Thế là đến khi hòa bình, bố Tiến ra quân. Chuyển ngành về ở luôn cơ quan ngoài Hà Nội, không thèm về quê với mẹ con Tiến nữa.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, dân làng thấy nói bố sếp Tiến chết. Hỏa táng ở đài hóa thân Hoàn Vũ, đưa tro về nghĩa trang làng làm mộ. Di ảnh mang về thờ trong ngôi nhà gỗ lim năm gian, mà sếp Tiến cho làm lại mấy năm nay.

Giỗ đầu, nên nhà sếp Tiến theo thông lệ ở quê mời khách rất đông. Sáng sớm tinh mơ, bà con họ hàng, nhân viên thân cận thuộc quyền đã tấp nập rộn rã dựng rạp, làm cỗ đón khách.

Từ khoảng mười giờ trở đi, cỗ bàn đã vãn, chỉ còn những tốp khách xa, chiến hữu thân tình của sếp Tiến ở ngoài Hà Nội về.

Đoàn khách của ngân hàng AHS, nơi quan hệ mật thiết với tổng của sếp Tiến, đích thân tổng giám đốc dẫn đám bộ sậu thân tín, gồm kế toán trưởng, trưởng phòng tín dụng và em thư ký vào ban thờ đặt lễ. Tổng giám đốc ngân hàng AHS, thành kính rút từ trong túi áo vét ra chiếc phong bì khá dày dặn, đặt lên mâm hoa quả em thư ký vừa sắp, thắp một nén nhang, rồi cả bọn chắp tay, cúi đầu… Sếp Tiến vừa đáp lễ, theo thói quen, vừa liếc rất nhanh cái phong bì trên mâm hoa quả, vừa nghĩ, bọn này cũng khá biết điều đây, phong bì dày gớm, không biết là polymer xanh hay cotton American nữa… Nhưng Tiến chợt nhớ ra, vừa bắt tay đội ngân hàng đưa ra mâm cỗ, vừa lầm bẩm chửi thầm trong bụng: “ĐM mấy thằng chó chết chuyên cắt cổ doanh nghiệp! Vụ năm trăm dàn máy MST vừa rồi, chỉ ngồi không, cả lũ chúng mày cũng nuốt chửng ba triệu rưỡi USD. Trong khi bố mày đây đầu tắt mặt tối, lăn như bi hết nước trong lại nước ngoài nhập về, cũng chỉ được “năm chai”. Hôm nay, bọn mày phải cúng bố ông vàng thoi mới đáng…” Chả là, tổng công ty của sếp Tiến có dự án đầu tư nhà máy sản xuất, phải nhập năm trăm dàn máy MST. Sếp Tiến đi châu Âu khảo giá: 45.000 USD một dàn máy. Về qua Tàu, bọn nó chào giá hàng Tàu 10.000 USD, kèm theo điều kiện sẵn sàng thổi giá lên bằng máy Âu, phần chênh lệch trả nguyên cục đối tác… Sếp Tiến đồng ý ngay. Bọn ngân hàng tinh như kền kền, đánh hơi thấy. Ra ngay điều kiện “hai mươi phần trăm lợi nhuận vụ này thì sẽ cấp một trăm phần trăm vốn”. Tiến mang dự án sang làm việc, đề nghị AHS tài trợ, Tiến cay lắm, những vẫn tươi cười nghiến răng đồng ý. Mà suy cho cùng, toàn tiền chùa cả, có phải của thằng nào đâu.

Lần lượt các đoàn về dự đám giỗ vào thắp hương, rồi ra rạp ngồi đánh chén tưng bừng. Đoàn nào Tiến cũng ra đáp lễ và chạm cốc, gọi là cám ơn thịnh tình. Rất nhiều đoàn khách, nào là công đoàn cơ quan, đoàn thanh niên, công ty đối tác, công ty thành viên, các phòng ban trên tổng… Đông lắm. Anh em họ hàng nhà Tiến ở quê rất mãn nguyện nở nang, vì có người nhà thành đạt. Làng Ngọc này, từ xưa đến nay vẫn lấy cái sự cỗ to, đông khách đến làm sang.

Trong lúc ngồi đợi đoàn khách VIP hẹn về muộn, sếp Tiến ngồi ở bộ tràng kỷ xế bên gian thờ nhìn đăm đăm lên bức ảnh cụ thân sinh. Tiến cảm thấy người ngồi trên ban thờ ngát khói hương kia hầu như chả có mối liên hệ nào với mình. Cả tuổi thơ của Tiến đã trôi đi mà không có bóng dáng người ấy. Những tủi hổ, những khốn khổ của cảnh gia đình một mẹ một con ít người nào có thể thấu hiểu. Những khi đi học cùng lũ bạn trong làng, bị trêu chọc, bắt nạt, đánh đập mà không có người cha bênh vực. Bị gọi là thằng không bố… Những cay đắng đã hằn sâu trong ký ức tuổi thơ của Tiến, không bao giờ có thể phai mờ. Cho nên, sau này, khi ông cụ thân sinh bị bệnh nặng, hết nơi trông cậy, họ hàng dàn xếp để cho Tiến nhận chăm sóc, mới đầu, Tiến từ chối thẳng thừng. Mẹ Tiến, lúc ấy đã mất. Chứ mẹ mà còn, thì Tiến không bao giờ dám cả nhắc đến tên ông bố mình ở nhà, đừng nói là đón về chăm sóc. Ngày bị bỏ rơi, mẹ Tiến đã chỉ trời chỉ đất mà thề rằng, sẽ cấm chỉ, không bao giờ cho phép bố Tiến về nhà và liên hệ với thằng con trai nữa. Bà ấy cay lắm. Hồi cưới bố Tiến, đêm tân hôn, bà vẫn là gái trinh. Mà cái thằng cha ấy, ngoài trông hào hoa phong nhã thế. Nhưng mà lúc động phòng hoa chúc, làm như bổ củi, cô dâu tí nữa thì phải đi bệnh viện cấp cứu. Sau này, chồng đi chiến trường, thân gái một con ở nhà, bao nhiêu là ong ve, bà có để ý gì đâu. Ngay như lão Tin hàng xóm, lúc ấy còn trai tân chưa vợ, cứ một hai sang đòi để anh chăm sóc mẹ con em, bà cũng đuổi thẳng cánh. Lão Tin, hay leo lên cây ổi bên vườn, cạnh bể nước mưa nhà bà để nhòm trộm những buổi đêm bà tắm ở sân bể. Có lẽ nhìn thấy rồi nên Tin đâm mê mẩn tâm thần. Một hôm rượu ngà ngà, vác dao sang nhà gọi bà ra nói chuyện: “Tôi thề là đời này tôi không chiếm được em, tôi không làm đàn ông nữa”. Rồi lấy dao, kê ngón tay trỏ lên bàn nước, chặt phăng. Chuyện này cũng kinh động cả làng một thời. Nhưng một số tay cáo già trong làng lại bảo “Thằng cha Tin ấy, nó diễn trò đấy. Nó làm thế để trốn bộ đội”. Quả thật lúc ấy, chiến tranh đang kỳ ác liệt. Sau chuyện ấy thì Tin cũng vẫn chả xơ múi gì thật. Nhưng mà không hiểu sao rồi mọi chuyện cũng đến tai bố Tiến trong Trường Sơn. Thế mới nên chuyện không nhận con. Thế cho nên mẹ Tiến cay đắng lắm. Một lòng kiên trinh giữ gìn, chờ chồng nuôi con mà lại bị nghi ngờ hắt hủi… Tiến, được sự giáo dục của mẹ cũng căm ông bố đẻ bạc tình của mình. Những năm tuổi thơ thèm khát tình thương người cha. Nhữäng năm tháng khốn khó học đại học thời bao cấp. Trong khi ông ta vinh thân phì gia ngoài Hà Thành. Không thèm để ý gì đến thằng con trai làng Ngọc, càng lớn càng giống bố như đúc khuôn. Tiến cay. Nhưng sau nghĩ lại, dù gì ông ấy cũng là bố mình. Vả lại, bây giờ ông ấy thất thế, hết tiền hết của. Mà mình thì đang thành đạt, tiền hơi dư, trích ra một tí, mua cái nhà. Thuê người chăm nom, thỉnh thoảng đá gà qua hỏi thăm vài câu, cũng chả bận mọn gì mà lại được tiếng. Mình vẫn chả đi làm từ thiện đấy sao, đằng này.

Thật ra, bố Tiến không phải là không có người chăm nom.

Sau khi chia tay mẹ Tiến, ông cũng đã kịp kiếm ngay cho mình một cô bác sĩ quân y, cùng trong đường Trường Sơn. Hai ông bà ở với nhau mươi năm, đẻ được một trai một gái thì bà ấy bị bệnh nặng rồi mất.

Vài năm sau, ông lại lấy một bà vợ nữa, bà thứ ba. Bà này nguyên là con út của sếp bộ, nơi bố Tiến công tác. Nhưng chả hiểu ra làm sao mà hai ông bà ấy ở với nhau vài năm, cũng đẻ được một thằng cu, rồi ly thân từ đấy.

Ông bố Tiến, hồi trẻ là một tay thanh niên ngon lắm. To, cao, đẹp trai sáng láng, hát hay, đàn giỏi mà lại chơi thể thao rất cừ. Có thế thì mẹ Tiến, vốn là tiểu thư duy nhất của cụ Ký Đằng, một nhà danh giá trong làng Ngọc, mới chết lăn chết lóc. Mặc cho bố mẹ phản đối: “Cái thằng ấy, mắt đĩ có đuôi thế, mày lấy nó chỉ có khổ”. Quả thật là đời trai của ông bố Tiến rất đào hoa. Ngoài ba bà vợ lần lượt cưới xin hẳn hoi, ông còn có cả tá tình nhân lúc nào cũng bám theo rều rễu. Nhưng cho đến lúc ly thân bà ba thì có vẻ ông cũng chán cái sự vợ chồng rồi. Ông đã về hưu, ở một mình tại căn nhà nhỏ mạn Bưởi. Hàng ngày ông hay xuống Hồ Tây đi loanh quanh, hoặc nhảy xuống bơi, như là một cách thể dục. Một lần vào buổi sáng sớm, đang đứng trên bờ hồ làm vài động tác khởi động để chuẩn bị nhảy xuống bơi, ông nhìn thấy xa xa phía ngoài mặt nước, có một người đang nghi ngóp, dáng chừng đuối nước. Ông nhảy xuống lôi vào bờ, một cô gái. Tỉnh lại, cô ấy òa khóc mà nói: “Sao không để cho tôi chết đi, cứu làm gì”.

Thế nhưng sau lần ấy, Hạnh (tên cô gái) lại không bao giờ nghĩ đến cái chết nữa. Những người tự tử được cứu thoát, thường thì sẽ không bao giờ tự tử lại, bởi khi sắp chết, chập chờn trong ranh giới giữa sự sống và cái chết, bản năng bảo tồn sự sống bùng lên dữ dội. Cái bản năng sống sót của mọi sinh vật sống khi lâm nguy được đánh thức, làm cho con người ta lúc đó lại thấy bừng lên một ham muốn sống. Rồi những trải nghiệm kinh hoàng của tột cùng đau đớn, tối tăm, lạnh lẽo… sẽ là những ký ức mà không ai muốn nếm trải lại. Đặc biệt là những kẻ tự tử vì tình. Hạnh là một cô gái bị tình nhân phụ bạc với cái thai trong bụng. Cô định kết thúc cuộc đời mình ở góc Hồ Tây, gần ngay nơi cái quán cà phê chòi cô hay ngồi tâm sự với người tình.

Biết hết mọi chuyện, ông bố Tiến bảo cô Hạnh: “Ba cái chuyện tình yêu trai gái, đực cái lăng nhăng, suy cho cùng, nó cũng như người ta buồn đái thì xả ra cho hết. Cô bận lòng quá làm gì. Rồi mọi chuyện qua hết. Cô cứ ở đây với tôi, tôi nuôi cả mẹ cả con. Lúc nào cô không thích nữa thì đi, tôi không giữ. Tôi cũng chán cảnh ràng buộc lắm rồi”. Thế là cô ấy ở lại với bố Tiến. Có chỗ thì ông giới thiệu là bạn gái. Có chỗ lại nói đấy là ô sin. Đa số ông chả giới thiệu gì, cứ mặc mọi người xung quanh, muốn hiểu ra sao thì ra. Đứa con trai trong bụng cô lúc nhảy xuống hồ mới được ba tháng, mặc nhiên, nó cũng gọi ông là ba. Ông cũng không bảo gì, mà lại thấy như là có niềm vui.

Có điều là, cuộc đời vốn không phẳng lặng như mặt hồ buổi sớm mai, mà nhiều khi, giông gió bất chợt làm nổi lên những cơn sóng đảo lộn hết cả. Cuộc sống của bố Tiến và cô Hạnh, đang rất là êm ái, được khoảng mươi năm thì bất ngờ bố Tiến bị bệnh nan y. Bao nhiêu của cải tích lũy được đều đã hết. Căn nhà nhỏ trên Bưởi cũng đã cầm cố, mà bệnh tình chưa thuyên giảm bao nhiêu. Mấy đứa con của hai bà vợ sau này chỉ giỏi ăn chơi, chả cậy nhờ được gì. Anh em họ hàng đằng nội nhà bố Tiến thấy vậy đành phải xúm vào sắp xếp. Tiến, lúc đó đã nắm chức Tổng giám đốc Tổng công ty Hà Lạng, doanh nghiệp nhà nước số một của bộ.

Lần đầu tiên đến căn nhà trên Bưởi để đón bố đẻ, bước vào gian phòng ngủ, Tiến nhìn thấy ông bố đang được một phụ nữ trẻ cho ăn sáng. Khi người phụ nữ ấy quay ra định chào, thì Tiến như chết đứng. Đất dưới chân Tiến như bỗng nhiên sụt xuống tận âm ti. Cảnh vật xung quanh bỗng nhiên quay tít, Tiến choáng váng gục ngay xuống nền nhà.

*
*   *

Gần mười hai giờ trưa, đoàn khách VIP do chánh văn phòng bộ dẫn đầu mới về tới nơi. Trong đoàn có cả chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty Hà Lạng và vụ trưởng hai vụ chủ chốt của bộ: Vụ Kế hoạch và Vụ Tài chính. Chánh văn phòng trước khi thắp hương, ghé vào tai Tiến thân tình: “Các anh lãnh đạo bộ bận cả, ủy quyền em về thắp hương ông”. Thằng cha Thán, chủ tịch hội đồng quản trị, thì vừa về đến nơi đã lăng xăng ra rạp chúc tụng, bắt tay bắt chân ầm ĩ, ra điều chỗ người nhà thân tình. Thằng cha này, Tiến căm ghét đặc biệt. Nó cậy có ông bác ruột bên ban tổ chức nhà đỏ nên luồn lọt, xin được cái chân “người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp”. Thế nên, ra đại hội cổ đông, nó nghiễm nhiên là chủ tịch hội đồng quản trị. Một mình nó nắm năm mươi mốt phần trăm cổ phần thì bố thằng Tây cũng chả địch được, nữa là năm nghìn cán bộ công nhân viên tổng Hà Lạng, gộp vào mới chưa đủ hai mươi phần trăm. Số cổ phần còn lại Tiến và mấy thằng bạn hẩu nắm giữ. Vì cả bọn đã làm ở tổng này lâu năm, biết rõ, nhà nước cho cổ phần kiểu này rất là béo bở, định giá tài sản rẻ như bèo. Đã thế, lại đưa mấy thằng bù nhìn giữ dưa ra làm cái gọi “người đại diện…” Toàn một lũ con ông cháu cha, bất tài vô tướng. Phải tranh thủ kiếm trước khi ra dựng cơ đồ riêng. Thế nên, mặc dù ghét cay ghét đắng thằng cha Thán, vừa ngu vừa gian vừa tham, nhưng Tiến vẫn phải cưng chiều nịnh bợ nó hết nước. Ngay cái vụ nhập khẩu dàn máy MST, nó chả cần phải bỏ công sức trí tuệ gì, chỉ ký vài cái nghị quyết, vài cái tờ trình vớ vẩn lên bộ. Thế là cũng ẵm ngon ba triệu rưỡi. Nhưng mà cũng phải công nhận thằng cha Thán này có tín nhiệm với bộ. Hầu như dự án nào của tổng do hắn đưa lên, chỉ hôm trước hôm sau là đã có đủ các chữ ký và con dấu đỏ choét. Mà làm đ. gì chả ký. Tiến lại văng tục thầm trong bụng. Vẫn cái dự án MST, cái dây trên bộ, từ kế hoạch, tài chính đến cụ nhất cụ nhì cụ ba… cũng đã làm gọn hai mươi phần trăm, vị chi là ba triệu rưỡi rồi. Cái vụ này, Tiến áp luật “tứ lục” của Tàu vào mà chia. Bọn cổ cánh trong tổng Hà Lạng được mươi phần trăm chia nhau, đã là cả một gia sản khổng lồ. Cả lũ sướng như phát rồ. Suốt ngày ca ngợi sếp tổng như ca ngợi lãnh tụ. Mà cái bọn con buôn Tàu khựa này thật kinh. Sang tiền kín như bưng. Không có tí ti dấu vết nào. Mả cha anh Tào Tháo, con cháu của anh ghê thật.

(Số sau đăng hết)