Phân loại chính xác các loại dự án phát triển kinh tế - xã hội, tách các dự án vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi chính sách thu hồi đất

Minh Vân lược ghi 07/11/2013 10:16

Đất đai có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác động đến các tổ chức, cá nhân và từng gia đình. Do vậy, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cần khắc phục những hạn chế, tồn tại trước đây như vấn đề thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư và giá đất...

Phân loại chính xác các loại dự án phát triển kinh tế - xã hội, tách các dự án vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi chính sách thu hồi đất ảnh 1ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Hà (Hà Nội): Luật Đất đai 2003 chưa làm rõ được cơ chế đại diện quyền sở hữu bảo đảm tính quốc gia đối với sở hữu đất đai
 
Đối với một quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đối với mỗi công dân, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp Luật Đất đai có ý nghĩa quan trọng chỉ sau Hiến pháp. Đất đai có nguồn gốc tự nhiên, đất đai cũng là kết quả vô giá của bao đời cha ông ta tạo lập và bảo vệ bằng mồ hôi, trí tuệ và xương máu của mình đã truyền lại cho chúng ta và sẽ tiếp tục chuyển giao cho muôn đời con cháu.

Đất đai là tài sản thiêng liêng lớn nhất của quốc gia, của toàn thể cộng đồng người Việt Nam, không thể do cá nhân nào tạo ra và càng không thể là sở hữu của riêng ai dù là hình thức hay thực chất. Vì thế Chương I, Điều 4 dự thảo quy định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là cần thiết, bảo đảm sự thống nhất tinh thần và nguồn lực vật chất, sức mạnh tổng hợp, chống các nguy cơ đe dọa chủ quyền quốc gia cũng như để bảo đảm động viên mọi nguồn lực cho phát triển tái cấu trúc kinh tế trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam". Tuy nhiên, Luật Đất đai 2003 với hơn 200 văn bản hướng dẫn trong đó có 13 nghị định, 65 văn bản hướng dẫn, hơn 150 văn bản liên quan khác vẫn chưa làm rõ được cơ chế đại diện quyền sở hữu đảm bảo tính quốc gia đối với sở hữu đất đai và phòng ngừa tình trạng tham nhũng, lạm dụng trong quản lý và sử dụng đất đai.

Cụ thể ở dự thảo mới về cơ chế đại diện và quản lý đất đai theo Điều 23 và Điều 24 ở Chương I xin lưu ý hai điểm là: Vai trò, trách nhiệm của QH và các cơ quan khác ở đâu, đến đâu khi chỉ quy định quyền và cơ chế quản lý cao nhất là Chính phủ và chưa rõ khuôn khổ chế tài cụ thể cho quản lý đất đai của Chính phủ mặc dù ở Điều 21 có quy định cơ quan nhà nước thực hiện đại diện chủ sở hữu về đất đai nhưng vẫn còn chung chung. Tôi đề nghị bổ sung và quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của QH và các cơ quan khác trong cơ chế đại diện và quản lý đất đai…

Về thu hồi đất ở Điều 62, tôi đồng tình với quy định chỉ thu hồi đất cho dự án phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Tuy nhiên, với các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mà quy định chung chung như tại Điểm g, Khoản 1, Điều 62 sẽ dẫn đến tùy tiện trong cơ chế áp dụng. Thực tế ở Hà Nội có khá nhiều dự án bị ách tắc do cơ chế đền bù giải phóng mặt bằng và theo đó là đơn thư, là khiếu kiện vô cùng phức tạp. Đã có dự án nhà thầu đòi phạt chủ đầu tư đến hàng trăm tỷ đồng do chậm bàn giao mặt bằng thi công. Tôi đề nghị quy định thành một điều riêng về các trường hợp nhà nước thu hồi đất cho dự án phát triển kinh tế - xã hội.
 
Phân loại chính xác các loại dự án phát triển kinh tế - xã hội, tách các dự án vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi chính sách thu hồi đất ảnh 2ĐBQH Trịnh Đình Thạch (Quảng Ngãi): Bỏ quy hoạch sử dụng đất cấp xã là phù hợp
 
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia, là lực lượng sản xuất to lớn, là động lực bên trong tạo ra sức mạnh và nguồn lực phát triển đất nước, đồng thời đất đai cũng là kế sinh nhai của mỗi con người. Từ khi sinh ra và lớn lên cho đến cuối đời, con người luôn gắn với đất, chính vì vậy Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung lần này được nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm, người dân hy vọng QH thông qua dự thảo luật sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn.

Về quy hoạch sử dụng đất, tôi thống nhất bỏ quy hoạch sử dụng đất cấp xã, quy hoạch được lập từ tổng thể, từ chi tiết, từ quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia đến huyện kèm theo quy định điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất sau 3 năm thực hiện như quy định tại Khoản 3, Điều 49, thể hiện quan điểm rõ ràng trong việc hạn chế vấn đề quy hoạch treo, khắc phục kịp thời những bất hợp lý nhận ra trong kỳ quy hoạch. Tuy nhiên, dự thảo cần bổ sung quy định thời hạn triển khai, lập và phê duyệt kế hoạch của từng cấp để bảo đảm thực hiện đồng bộ đạt được các mục tiêu sử dụng đất. Cũng phải quy định rõ hơn về quy hoạch quốc gia sau khi được phê duyệt thì thời gian bao lâu? Thời gian nào để cấp tỉnh, cấp huyện được phê duyệt và được thông qua? Nếu để kéo dài thì không bảo đảm thực hiện mục tiêu của quy hoạch cấp trên, quy hoạch cấp dưới chưa triển khai thực hiện được bao lâu thì quy hoạch cấp trên đã chuyển sang quy hoạch mới. Đối với quy hoạch cấp quốc phòng, hiện nay trên cả nước quy hoạch đất quốc phòng rất lớn. Trong quá trình tổ chức quy hoạch, các địa phương đều thống nhất cao, trong quá trình sử dụng đất để lập các dự án thì cơ chế đền bù của quân đội gặp nhiều khó khăn. Tôi đề nghị Chính phủ cần có văn bản để thống nhất và chỉ đạo các địa phương nhằm hỗ trợ cho quân đội để thực hiện các dự án, nhất là các dự án xây dựng doanh trại cũng như các dự án về thao trường, trường bắn trong quân đội. Thứ hai, việc cấp giấy quyền sử dụng đất quân đội, tình trạng hiện nay xâm lấn ở các địa phương xảy ra rất phổ biến bởi vì không kịp thời cấp giấy quyền sử dụng đất cho các đơn vị quân đội để dẫn đến tranh chấp và vấn đề này xử lý ở nhiều địa phương gặp nhiều khó khăn.

Về điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư Điều 53, tôi thống nhất quy định 10 ha trồng lúa, 20ha đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, còn dưới thì giao cho HĐND quyết định. Tuy nhiên, tôi đề nghị xem xét lại về quy mô diện tích theo yếu tố vùng để căn cứ xác định hạng mức cho phù hợp theo Điều 129. Vì đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể phù hợp, tuy nhiên miền Trung và đặc biệt là vùng rừng núi thì 10 ha là quá lớn.
 
Phân loại chính xác các loại dự án phát triển kinh tế - xã hội, tách các dự án vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi chính sách thu hồi đất ảnh 3ĐBQH Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng): Thẩm quyền của UBND tỉnh có quá lớn?
 
Một, về thu hồi đất, đã có nhiều ý kiến đề nghị không thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội mà nên đưa phương thức trưng mua quyền sử dụng đất đối với các dự án này, nhằm bảo đảm hài hòa, chia sẻ lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân song cho đến thời điểm này chưa nhận được sự đồng thuận của cơ quan soạn thảo. Theo tôi, nếu Luật Đất đai (sửa đổi) lần này vẫn giữ nguyên quy định các trường hợp thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội quy định tại Điều 62 của dự thảo luật thì vấn đề khiếu kiện về đất đai vẫn là điểm nghẽn chưa có lời giải. Đề nghị Ban soạn thảo cần làm rõ khái niệm thu hồi đất phục vụ mục đích kinh tế - xã hội. Đây là một khái niệm không thật rõ ràng, cần được làm rõ để tránh lợi dụng, vì vậy, phải phân loại chính xác các loại dự án phát triển kinh tế - xã hội cho các mục đích và lợi ích cụ thể, tách các dự án kinh tế vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi phạm vi các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong chính sách thu hồi đất này, nhằm tránh lợi dụng và tạo ra các bất bình xã hội.

Ở Điều 62 dự thảo luật, tôi đề nghị Ban soạn thảo cần làm rõ thêm một số vấn đề sau. Thứ nhất, đề nghị chỉ những dự án do nhà nước quyết định phê duyệt đầu tư thì nhà nước mới thu hồi đất. Với dự án mà cơ quan nhà nước chỉ ra thông báo hoặc chấp nhận đầu tư thì không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất phải trưng mua quyền sử dụng đất. Quyền lợi, lợi ích giữa chủ đầu tư và người có đất bị thu hồi thuộc quan hệ dân sự được pháp luật bảo vệ. Thứ hai, theo báo cáo của cơ quan thẩm tra nhà nước chỉ thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội quy mô lớn quan trọng của đất nước được quy định tại Điều 62. Tôi đề nghị cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra làm rõ căn cứ vào yếu tố nào để đưa các dự án nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội tại Điều 62 vào diện nhà nước cần phải thu hồi đất? Các dự án thuộc các ngành, nghề khác thì sao, phải chăng nó không quan trọng và không thiết thực? Thứ ba, để đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng tài nguyên đất, dự thảo luật cần bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm và thẩm quyền thu hồi đất nhằm tránh tình trạng áp dụng một cách tràn lan và quá giới hạn thu hồi đất, dẫn đến hậu quả như thời gian vừa qua là có rất nhiều khu công nghiệp lấy đất và đền bù với giá rất rẻ cho dân nhưng đến nay phần lớn diện tích đất của các khu công nghiệp chưa có người sử dụng, đất đai bỏ hoang. Mục tiêu tăng cho ngân sách không những không đạt được mà ngân sách phải góp thêm tiền để nuôi bộ máy khu công nghiệp, trong khi đó người dân bị mất đất không có đất canh tác, một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đói nghèo. Thứ tư, dự thảo luật cần làm rõ hơn thời điểm thu hồi đất diễn ra khi nào, tránh tình trạng cứ quy hoạch là thông báo thu hồi rồi lại để treo lãng phí rất lớn đến nguồn tài nguyên đất.

Về giá đất tại Mục 2, Chương VIII, tôi cơ bản nhất trí với dự thảo luật quy định về nguyên tắc, phương pháp định giá đất. Tuy nhiên, vấn đề tôi băn khoăn nhất trong các quy định về giá đất là thẩm quyền của UBND cấp tỉnh còn quy định quá lớn, vừa giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất lại vừa có quyền quyết định giá đất sẽ làm cho giá đất được quyết định thiếu khách quan, minh bạch. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện về đất đai, trong khi vai trò, thẩm quyền của tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất được quy định rất mờ nhạt trong dự thảo luật. Vì vậy, để bảo đảm tính minh bạch về định giá đất tôi đề nghị cần thiết phải thành lập một cơ quan có thẩm quyền quyết định về giá đất độc lập với cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai nhằm tách bạch cho được thẩm quyền quyết định về đất đai và thẩm quyền quyết định về giá đất, tránh tình trạng một cơ quan vừa đá bóng, vừa thổi còi dẫn đến tình trạng lạm dụng làm thiệt hại đến quyền lợi và lợi ích của người dân khi bị thu hồi đất.
 
Phân loại chính xác các loại dự án phát triển kinh tế - xã hội, tách các dự án vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư ra khỏi chính sách thu hồi đất ảnh 4ĐBQH Huỳnh Minh Hoàng (Bạc Liêu): Không áp dụng thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư
 
Thu hồi đất không chỉ được quy định trong Luật Đất đai (sửa đổi) mà cũng là nội dung được đề cập trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Dự thảo Luật Đất đai quy định nhà nước sẽ thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích như phục vụ quốc phòng an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia công cộng, phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tôi kiến nghị nhà nước chỉ thu hồi đất để phục vụ, thực hiện các dự án phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, phục vụ cho lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng. Đối với các dự án phát triển kinh tế vì lợi ích thuần túy của nhà đầu tư thì nhà nước không áp dụng thu hồi đất mà phải áp dụng cơ chế góp đất, điều chỉnh lại đất đai… Như thế, để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư, người bị thu hồi đất, Điều 62, Chương VI cần bổ sung điều kiện, tiêu chí để làm rõ dự án nào phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm tránh tình trạng thu hồi đất tràn lan.

Về giá đất, trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định giá đất do nhà nước quyết định bảo đảm nguyên tắc phù hợp với giá phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng. Nhưng thế nào là giá thị trường? Giá thị trường được xác định như thế nào cần phải làm rõ trong Điều 112, Mục 2, Chương VIII. Theo tôi thị trường là phải để thị trường quyết định, giá qua đấu giá chính là giá thị trường chứ không phải giá đất nhà nước công bố hàng năm là giá thị trường. Khi đó giá đất rất minh bạch, ngay trong một xã, một thôn, một ấp có thể có giá đất khác nhau và người dân được đền bù khác nhau, bởi thôn, ấp bị thu hồi có vị trí thuận lợi khác nhau, vị thế khác nhau. Ngoài ra, thời điểm thu hồi đấu giá đất khác nhau thì giá đất cũng khác nhau, khi đó sẽ không có chuyện so đo, tị nạnh giữa người dân, các vùng giáp ranh về giá đền bù. Trong quá trình đấu giá, đại diện người dân được tham gia, giám sát hội đồng đấu giá, hướng làm minh bạch như vậy sẽ giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo, đền bù giải phóng mặt bằng mà đa phần do chưa hài lòng về giá đền bù. Nếu theo cơ chế thị trường thì thông thường người bán phải là người có quyền quyết định giá bán, tuy nhiên trong thực tế thì không phải như vậy. Vậy thì giải pháp nào cho vấn đề này như thế nào? không thể để cho người bị thu hồi đất bị xem là người đứng ngoài cuộc.

Do đó, cần phải xem xét vấn đề này rất cụ thể, khi thu hồi đất cần phải công khai, minh bạch, giá cả cần phải được thỏa thuận với cộng đồng dân cư chứ không phải theo hình thức họp dân như hiện nay, nhưng thực chất đã do chính quyền quyết định rồi, việc họp dân chỉ mang tính chất thông qua mà thôi. Đã là đất kinh doanh thương mại là phải đấu giá chứ không có chuyện giao đất. Bởi vì hiện tượng giao đất thì không còn minh bạch, dẫn đến tham nhũng, khiếu kiện, tố cáo. Hiện nay quá trình giao đất giữa nhà đầu tư và hộ nông dân nếu quan hệ tốt thì được giao nhanh, nếu không thì ngược lại. Luật sửa đổi phải quy định nhà nước làm quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất, sử dụng vốn ngân sách để giải phóng mặt bằng sạch, tổ chức đấu giá minh bạch, giá trị tăng thêm sau đấu giá sẽ được phân chia cho người dân là bao nhiêu cần quy định rõ hoặc áp dụng cơ chế góp đất và điều chỉnh lại đất đai.
 
Bên cạnh đó, nhà nước cần thành lập cơ quan định giá đất, người dân bị thu hồi đất có quyền giới thiệu danh sách các tổ chức cung cấp dịch vụ định giá đất độc lập, tham gia đấu thầu định giá đất để xây dựng phương án bồi hoàn, hỗ trợ và tái định cư sao cho có lợi cho người bị thu hồi đất, bỏ hẳn cơ chế giao đất xin cho.

Minh Vân lược ghi