Hôn nhân cận huyết - vấn đề dân số và giống nòi

Công Hải 05/10/2013 08:34

Theo Trung tâm nghiên cứu và Phát triển dân số thuộc Tổng cục DS-KHHGĐ, ở một số dân tộc thiểu số như Lô Lô, Hà Nhì, Chứt, Phù Lá, Ê đê, Chu Ru, Si La, Pu Péo, Mông, Rơ Mân, Brâu… cứ 100 trường hợp kết hôn thì trung bình có 10 trường hợp hôn nhân cận huyết thống. Đây cũng là những dân tộc thiểu số có nguy cơ giảm về số lượng và chất lượng dân số rõ rệt nhất…

Hôn nhân cận huyết thống - quan niệm và truyền thống

Hôn nhân cận huyết thống là hôn nhân giữa những người cùng trong quan hệ nội tộc, trong cùng một nhóm thân tộc, họ hàng được luật tục hoặc tập quán quy định; có mối quan hệ huyết thống với nhau theo dòng họ mẹ hoặc dòng họ cha. Tại một số cộng đồng cư dân đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi từ trước đến nay vẫn tồn tại hôn nhân giữa con anh - con em, con chị - con em trong cùng một nhà.

Cái lý để bà con chưa từ bỏ hôn nhân cận huyết thống là do họ coi đây là văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Một số dân tộc thiểu số quan niệm rằng: chỉ cùng họ hàng, dòng máu lấy nhau thì mới yêu thương nhau, mới giữ được của cải vật chất không đi khỏi gia đình mình, dòng họ mình. Lấy trong họ tộc để của cải không bị mang đi đến họ tộc khác, vợ chồng cũng không bỏ được nhau. Suy nghĩ này đã thấm sâu trong đời sống từ bao đời nay trong cộng đồng nhiều dân tộc thiểu số sinh sống trên những vùng núi cao, vùng sâu.

Qua khảo sát tại 6 xã thuộc 3 huyện Sa Thầy, Ngọc Hồi và Kon Plông của tỉnh Kon Tum vào cuối năm 2012, đã phát hiện trên 350 cặp tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; trong đó, có 56 cặp hôn nhân cận huyết thống.

Nguồn: vcmedia.vn
Nguồn: vcmedia.vn
Mấy năm trước, tỉnh Lào Cai đã khảo sát tại 44 xã của 9 huyện, thành phố về tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Qua đó, phát hiện 224 cặp hôn nhân cận huyết thống; trong đó, có 221 cặp là con bá lấy con dì, con chị gái lấy con em trai, cháu lấy dì, chú lấy cháu, cháu lấy cô, có 3 cặp hôn nhân là con anh trai lấy con em trai.

Ở xã vùng cao Chế Cu Nha, huyện Mù Cang Chải, Yên Bái, người Mông chiếm tới 98,5% trong tổng số gần 2.850 nhân khẩu. Người dân ở đây nghĩ rằng, họ hàng lấy nhau càng gần thì càng không phải chia sẻ tài sản với người ngoài; khác họ là lấy nhau được. Vì vậy, câu chuyện hôn nhân cận huyết thống, nội tộc là chuyện bình thường.

Lên vùng cao nguyên đá Đồng Văn cũng như các huyện vùng cao núi đá ở phía Bắc hay 3 huyện vùng cao núi đất ở phía Tây của tỉnh Hà Giang, câu chuyện tảo hôn hay hôn nhân cận huyết thống là chuyện thường ngày ở bản, ở huyện. Tại hầu hết các huyện trong tỉnh Hà Giang, số lượng các cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết thống trong cộng đồng người Mông, Cờ Lao,  Dao, Pu Péo… chiếm một tỷ lệ khá lớn…

Giải pháp truyền thông gỡ câu chuyện truyền thống

Trao đổi về câu chuyện hôn nhân cận huyết thống cùng những hệ lụy của nó với sự phát triển giống nòi, một cán bộ thuộc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết: nhiều bệnh nhi bị huyết tán di truyền bẩm sinh do hôn nhân cận huyết thống đến bệnh viện truyền máu. Điều đau xót là họ đều rất nghèo, phải mua máu hoàn toàn vì anh em, cha mẹ không thể cho máu được. Các em sinh ra từ đột biến gen ở thể cao giữa cha và mẹ có cùng huyết thống, mang mầm bệnh từ trước.

Theo số liệu mà Bệnh viện Nhi Trung ương, hiện nay, có khoảng 5 triệu trẻ em đang mang gen mầm bệnh di truyền do đột biến gen từ hôn nhân cận huyết thống. Đó là bệnh thiếu máu và lùn bẩm sinh. Mới đây, các cơ quan chức năng lại phát hiện ở Thừa Thiên Huế, Hòa Bình, tại vùng cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số, có nhiều trẻ em mang bệnh nặng do hôn nhân cận huyết thống. Bệnh các em mắc không phải bệnh ung thư mà là huyết tán di truyền, lùn bất thường.

Những ý kiến từ nhà chuyên môn, những số liệu điều tra từ thực tế khẳng định những tác hại của hôn nhân cận huyết thống với sự phát triển giống nòi. Đây cũng là sự cảnh báo, nhắc nhở cộng đồng, nhất là các cơ quan chức năng nhanh chóng tìm giải pháp hữu hiệu để hạn chế và dần dần đi đến xóa bỏ hình thức hôn nhân lạc hậu, kìm hãm sự phát triển con người.

Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình qui định: “…Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời”. Đối tượng điều chỉnh ở đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số; họ sống đơn lẻ, rải rác trên những triền núi, nơi vùng cao, giao thông đi lại không thuận tiện. Hôn nhân cận huyết thống là một phần trong văn hóa tồn tại và phát triển của bà con dân tộc từ bao đời. Vì vậy, vấn đề cần được giải quyết là phải làm thay đổi được hành vi và nhận thức của một bộ phận cộng đồng, không áp dụng thuần túy luật pháp nếu muốn đạt kết quả có tính bền vững.

Bên cạnh đó, nhiều địa phương chia sẻ và đề xuất: cần thay đổi tư duy tuyên truyền truyền thống như thông qua một vài chiến dịch tuyên truyền; đánh giá kết quả thông qua báo cáo từ chính quyền địa phương; đếm theo số lượng phát ra từ các dịch vụ sức khỏe sinh sản và tình dục… Do điều kiện cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số phân tán, không tập trung, đi lại khó khăn; họ gặp nhau đông đủ trong những phiên chợ mỗi tuần, trong dịp hội, hè… vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động được tổ chức trong những dịp này có hiệu quả nhất. Cần vận dụng phương pháp tuyên truyền đa phương tiện: nói chuyện, phát tờ rơi ở chợ phiên; tăng cường tuyên truyền miệng để đồng bào dễ hiểu, dễ nhớ. Thay vì các hội nghị, hội thảo lớn ở thành phố, hãy tổ chức thêm nhiều lễ hội truyền thống, những hình thức sinh hoạt văn hóa, những chợ phiên, chợ tình… để bà con có dịp giao lưu, gặp gỡ, để thanh niên có điều kiện tìm bạn tình khác bản, khác dòng họ.

Ngành y tế cần có đánh giá mức độ ảnh hưởng của hôn nhân cận huyết thống, có bằng chứng khoa học cụ thể cung cấp cho địa phương để cán bộ dân số nói cho đồng bào nghe, giải thích cho đồng bào hiểu cái đúng cái sai, cái không nên làm… Cần có những giải pháp thiết thực, phù hợp vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chính sách DS - KHHGĐ để chương trình đạt hiệu quả bền vững.

Công Hải