Nghị quyết 35/2009/QH12, Nghị quyết 50/2010/QH12 và một số vấn đề của giáo dục đại học

Gs.Tskh Nguyễn Ngọc Trân 04/04/2013 08:40

Cuối năm 2012, sau khi Luật Giáo dục đại học được QH thông qua, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ đã tiến hành giám sát chuyên đề về việc thực hiện Nghị quyết số 35/2009/QH12 và Nghị quyết 50/2010/QH12 của Quốc hội về các nội dung liên quan đến giáo dục đại học.

Thêm phần đánh giá nguyên nhân sẽ nâng chất lượng của báo cáo

Cuối năm 2012, sau khi Luật Giáo dục đại học được QH thông qua, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ đã tiến hành giám sát chuyên đề về việc thực hiện Nghị quyết số 35/2009/QH12 và Nghị quyết 50/2010/QH12 của Quốc hội về các nội dung liên quan đến giáo dục đại học.

Dự thảo báo cáo của Đoàn giám sát soạn thảo công phu, nhiều số liệu, nội dung khá đầy đủ so với mục đích yêu cầu giám sát, cung cấp nhiều thông tin về hiện trạng của nền giáo dục đại học nước nhà.

Chia sẻ nhiều kết luận và kiến nghị của báo cáo, tôi có nhận xét là các hạn chế và bất cập mà báo cáo nêu lên không phải là mới phát hiện mà là lưu niên. Tại sao chúng chậm được giải quyết, tại sao một chủ trương lớn của Nhà nước, xã hội hóa giáo dục, vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa đạt mục tiêu đề ra? Báo cáo giám sát cần bổ sung phần phân tích nguyên nhân để các đề xuất và kiến nghị thuyết phục hơn.

Nhằm góp phần vào công việc này, xin nêu lên mấy vấn đề dưới đây.

Các Nghị quyết 35, Nghị quyết 50 của QH và Luật Giáo dục đại học

Nghị quyết 35/2009/QH12 được ban hành ngày 19.6.2009. Nghị quyết 50/2010/QH12, một năm sau, ngày 19.6.2010. Luật Giáo dục đại học được QH thông qua tại Kỳ họp thứ Ba Khóa XIII, đúng hai năm sau đó, ngày 18.6.2012, có hiệu lực kể từ ngày 1.1.2013.

Đợt giám sát sẽ đóng góp to lớn nếu nó phục vụ cho việc hoàn thiện dự thảo Luật Giáo dục đại học. Rất tiếc đây là điều không thể, vì đợt giám sát tiến hành tháng 7.2012, sau khi Luật được thông qua.

Trong điều kiện đó, sẽ rất bổ ích nếu báo cáo giám sát có thêm mấy nội dung sau đây:

(1) Những quy định trong hai NQ 35 và 50 đã được thể chế hóa như thế nào vào Luật Giáo dục đại học;

(2) Qua đợt giám sát, những gì mà đoàn nhận định như là những bất cập, yếu kém cần giải quyết, thì Luật Giáo dục đại học đã có những quy định gì để khắc phục, hay chưa có quy định, hay thậm chí đã thể chế hóa vào luật những quy định dẫn đến những tồn tại đó?

Gần đây Hiệp hội các trường đại học ngoài công lập đã có công văn số 08/HH-VP ngày 28.2.2013 gửi Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị một số giải pháp trước mắt “nhằm giải cứu hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập khỏi nguy cơ tan rã”. Có hai kiến nghị của Hiệp hội:

(1) Cần chuẩn hóa khái niệm về các loại hình trường trong hệ thống giáo dục quốc dân; sớm làm rõ những vấn đề về sở hữu, tính chất không vì lợi nhuận, vì lợi nhuận, (…)

(2) Tiếp tục sửa chữa quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục ban hành tại các Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg và số 63/2011/QĐ-TTg.

là muộn màng vì các cơ chế “không vì lợi nhuận”, “vì lợi nhuận hợp lý”(1), các quy chế về tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục, trong hai Quyết định 61 và 63, đã được thể chế hóa vào Luật.

Còn nhiều ví dụ khác nữa cho thấy Luật Giáo dục đại học đã được thông qua trong khi còn nhiều vấn đề chưa chín muồi, còn đang tranh luận.

Rất tiếc là trong sự vội vã này có trách nhiệm của QH, bởi lẽ chính QH đã quy định trong Nghị quyết 50/2010/QH12, tại Điều 2, khoản 1:

“Để đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về giáo dục đại học và nâng cao chất lượng đào tạo, Quốc hội yêu cầu Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

1. Trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật Giáo dục đại học trong năm 2011; (…)”.

Về hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học

Đất nước đang hội nhập với thế giới, việc hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc tiếp thu tri thức, kinh nghiệm quản lý và nâng cao nguồn lực cho giáo dục đại học.

1. Hiện nay có 5 dự án ODA trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo với tổng vốn vay là 554,72 triệu USD (tương đương với 11.650 tỷ VNĐ).

Đây không phải là lần đầu tiên, Bộ có những dự án ODA trực thuộc cho giáo dục đại học. Trước đây, vào cuối thập niên 1990, WB đã từng cho vay hàng trăm triệu USD cho một dự án tăng cường năng lực cho hai Đại học Quốc gia Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhìn lại hiệu quả của việc sử dụng vốn vay này rất cần vì ODA cũng là ngân sách nhà nước, hơn thế nữa là nợ phải trả. Đối chiếu lại 5 dự án ODA lần này, dự thảo báo cáo còn khá sơ lược.

Để bảo đảm nguồn vốn ODA được sử dụng có hiệu quả, QH cần được thông tin đầy đủ và rõ ràng hơn về các dự án này, mà cụ thể là chủ trương, lộ trình đầu tư và lộ trình đi vào hoạt động và phương án kinh phí, các trường tiếp nhận dự án, ai quản lý và cơ chế quản lý nếu là trường có yếu tố nước ngoài.

2. Chủ trương xây dựng một số “trường đại học xuất sắc” (trước đó được gọi là “trường đại học đẳng cấp quốc tế”) được ban hành trong Quyết định 145/2006/QĐ-TTg cách đây 7 năm.

Dự kiến có 4 trường được xây dựng theo hình thức đầu tư 100% vốn Nhà nước, vay từ WB và ADB, và với các đối tác Đức, Pháp, Nhật và Mỹ. Tới nay hai trường đã được thành lập: Trường Đại học Việt – Đức (tháng 3.2008) và Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (tháng 12.2009). Việc triển khai còn nhiều khó khăn vướng mắc. Nguyên nhân từ đâu? Phải chăng là vì còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, suy tính chưa đủ độ chín mà đổi tên gọi là một biểu hiện?

Vốn xây dựng đã là 100% từ ngân sách nhà nước, thế thì sự tham gia và vai trò của các đối tác là gì? Cơ chế quản lý các trường đại học xuất sắc ra sao?

Báo cáo giám sát cần làm rõ mỗi dự án trường đại học xuất sắc đã có báo cáo nghiên cứu khả thi và luận chứng tác động đến môi trường kinh tế xã hội không? đã được phê duyệt ở cấp nào, với nội dung gì?

Trong thời gian qua, đã có nhiều dự án hợp tác quốc tế hoạt động tương đối trôi chảy, có kết quả, nhưng khi dự án hợp tác tới hạn, thì dự án tàn lụi dần theo nguồn ngoại viện. Chính vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần nói rõ về sự tham gia của các đối tác và nói rõ Bộ sẽ làm gì để tình trạng này sẽ không xảy ra.

Mặt khác, có đúng là có chủ trương xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế “hoàn toàn mới, không phụ thuộc vào lối mòn, vào quá khứ, thoát ly cơ chế quản lý hiện hành” để nhanh chóng có chỗ trong một tốp 100, 200 trường đại học hàng đầu thế giới nào đó hay không(2)?

Giả sử rằng các trường đại học xuất sắc thành công nhờ tất cả các ưu ái đặc cách đó thì khả năng nhân rộng mô hình ra như thế nào? Đây mới là điều quan trọng đối với tương lai, bởi lẽ các con chim én đặc biệt đó liệu có mang lại được mùa Xuân cho nền giáo dục đại học nước nhà hay không?

3. Hiện nay liên kết đào tạo với các trường đại học nước ngoài và nhập khẩu giáo trình là một thực tế. Nội dung này chưa được đề cập trong dự thảo báo cáo giám sát đúng mức, và theo tôi cần được QH quan tâm.

Có ý kiến cho rằng liên kết đào tạo và nhập khẩu giáo trình, mời giáo sư nước ngoài vào giảng là một cách rút ngắn con đường nâng cao trình độ giáo dục đại học Việt Nam ngang tầm với khu vực và thế giới.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương gì về vấn đề này hay để thả nổi, tự phát? Bộ đánh giá các mặt lợi và bất lợi trong việc liên kết đào tạo và nhập khẩu giáo trình hiện nay ra sao và làm gì để hạn chế tối đa các mặt tiêu cực?

Giáo trình là một loại hàng hóa rất đặc biệt. Người nhập khẩu phải có đủ trình độ mới có thể lựa chọn tốt được. Người dạy cũng phải có trình độ tối thiểu mới truyền đạt được nội dung, để không phải chỉ là người lặp lại, như một kiểu playback.

Chúng ta đều biết rằng đằng sau các môn học về kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh đang nở rộ, là các học thuyết về kinh tế, về phát triển; đằng sau các môn học về xã hội nhân văn là các quan điểm về triết học, về chính trị, về thang giá trị mang dấu ấn của bên bán. Việc tiếp cận các kiến thức mới là cần, nhưng việc tiếp thu có hai mặt, nên như thế nào để được cái lợi tối đa và cái hại tối thiểu?

Sau cùng, ở hầu hết các nước trên thế giới, mô hình đại học hiện nay là 8 năm (3+2+3) tiếp sau 12 năm phổ thông, để đi đến tiến sỹ, hoặc 9 năm (4+2+3) nếu phổ thông là 11 năm. Giáo trình hầu hết đều dạy theo tín chỉ. Nhập một giáo trình là tiếp nhận sự lắp ráp một số tín chỉ vào một tổng thể các tín chỉ có liên kết để hình thành một ngành học, trong một bậc học. Liệu điều này có được nhận thức đầy đủ không?

Không phải giáo trình nào được các trường đại học bên ngoài “tiếp thị” cũng là hàng tốt và phù hợp. Trình độ và bản lĩnh của người nhập và người dạy là hết sức quan trọng để biết tiếp nhận có chọn lọc.

Về quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học

1. Về việc xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản

Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2.11.2005 của Chính phủ, Nghị quyết 50/2010/QH12 tại Điều 2, khoản 6, Luật Giáo dục đại học, Điều 69, đều quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học.

Thế nhưng, công văn số 6451/BYT-TCCB của Bộ Y tế ngày 20.9.2012 gửi Đại học Huế và Đại học Thái Nguyên đề nghị góp ý cho Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường Đại học Y, Đại học Thái Nguyên và Đại học Y Dược, Đại học Huế, trực thuộc Bộ Y tế.

Quản lý nhà nước trên vấn đề này có phải thiếu nhất quán không?

2. Về một số tiêu chí và chủ trương trong lĩnh vực giáo dục đại học

Trong quy hoạch lĩnh vực giáo dục đại học, có nhiều tiêu chí và chủ trương gây ra không ít băn khoăn. Có thể đơn cử chủ trương xây dựng các trường đại học đẳng cấp quốc tế (về sau sửa lại đại học xuất sắc); số sinh viên đào tạo theo luồng ngoài công lập đạt 40% tổng số sinh viên cả nước vào năm 2020(3); đào tạo 20.000 tiến sỹ trong thời gian 2008-2020; v.v. …

Dường như xuất phát điểm và lộ trình hình thành những quyết định đó bắt đầu từ hiện trạng, so sánh với mức độ bình quân trên thế giới (hay khu vực), đối chiếu với mục tiêu của cương lĩnh, chiến lược, suy ra khoảng cách phải thu hẹp là bao nhiêu, phải hoàn thành trong mấy năm, bao nhiêu nhiệm kỳ đại hội Đảng, từ đó suy ra các chỉ tiêu và các chủ trương.

Nếu cơ sở cho quyết định chỉ có bao nhiêu đó thì quả thật là không đủ và rất đáng lo cho tính khả thi của các mục tiêu, cho hiệu quả của việc sử dụng hàng chục ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước. Nếu đúng như vậy, cần sớm chấn chỉnh và tăng cường năng lực quản lý và điều hành cơ quan quản lý việc đào tạo ra nguồn năng lực chất lượng cao của đất nước.

______________

1. Sau khi Luật Giáo dục đại học được QH thông qua, không chờ đến ngày luật có hiệu lực, các trường ngoài công lập đã vừa khai thác vừa đối phó với cơ chế này với nhiều hình thức rất đa dạng.

2. Ý định này cũng đã được nghe phát biểu trong buổi thông báo quyết định thành lập một viện nghiên cứu cao cấp tại Hà Nội gần đây.

3. Theo quy hoạch của Nghị quyết 14 của Chính phủ, đến năm 2020, số sinh viên ngoài công lập lên tới 40% tổng số sinh viên cả nước.

<i>Gs.Tskh </i>Nguyễn Ngọc Trân