Cần sự quyết tâm và vào cuộc của cả hệ thống chính trị
Vừa qua, ngày 20.3.2013, Ban Bí thư TƯ Đảng tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị Khóa XI về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020.
Làm tốt vai trò “trụ cột” an sinh xã hội
Theo đánh giá của Hội nghị, BHXH và BHYT là hai chính sách lớn, trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, liên quan đến quyền lợi, sức khỏe, bảo đảm an toàn và chất lượng cuộc sống trọn đời của người tham gia, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức tầm quan trọng và vai trò trụ cột của BHYT, BHXH đối với chính sách an sinh xã hội, trong những năm qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đảng, Quốc hội đã kịp thời ban hành nhiều chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật về nhằm Tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH, Đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới. Thể chế hóa các quan điểm của đảng thành Quốc hội đã thông qua Luật BHXH, Luật BHYT. Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Qua đó, Quỹ BHXH, BHYT được hình thành độc lập với ngân sách nhà nước, có kết dư và bảo toàn, tăng trưởng, tham gia đầu tư góp phần phát triển kinh tế - xã hội; Quỹ BHYT bước đầu đã cân đối thu chi. Đến cuối năm 2012, Quỹ BHXH tự nguyện có số dư là 984,8 tỷ đồng; Quỹ BH thất nghiệp có số dư là 24.315,7 tỷ đồng; Quỹ BHYT đã cân đối thu chi, bù đắp phần chi của những năm trước đó và đến hết năm 2012 có kết dư khoảng 12.891 tỷ đồng.
Năm 2002, sau khi Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển giao BHYT từ Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam, hệ thống BHXH Việt Nam hoạt động với mô hình tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất. Bên cạnh đó, BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân và BHXH Ban Cơ yếu Chính phủ được thành lập để thực hiện chế độ, chính sách, chế độ BHXH cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức của các lực lượng này.
Nhận rõ yếu kém để khắc phục
Sau hơn 50 năm thực hiện BHXH và 20 năm thực hiện BHYT, quỹ BHXH được hình thành, có kết dư và bảo toàn, tăng trưởng, tham gia đầu tư góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn những yếu kém cần phải khắc phục. Đó là việc phổ biến, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về công tác BHXH, BHYT ở một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa sâu rộng, có nơi còn mang tính hình thức, chưa thường xuyên, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, giữa trung ương và địa phương nên hiệu quả còn thấp.
Đối tượng tham gia BHXH, BHYT còn thấp, thấp hơn so với yêu cầu và quy định của Luật. Số người tham gia BHXH mới đạt khoảng 20% lực lượng lao động. Số người tham gia BHYT mới đạt khoảng 67% dân số. Đặc biệt tỷ lệ tham gia của nhóm tự nguyện đóng BHYT rất thấp, mới trên 20% tổng số đối tượng, trong đó đa số là những người mắc bệnh mãn tính, bị bệnh hiểm nghèo.
Tiềm ẩn sự mất cân đối Quỹ hưu trí, tử tuất trong tương lai; Quỹ BHYT luôn có nguy cơ thâm hụt; Chế độ bảo hiểm thất nghiệp do hai hệ thống cơ quan thực hiện nên gặp khó khăn, chồng chéo gây phiền hà cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Tình hình nợ đọng, trốn đóng BHXH, BHYT phổ biến. Theo đánh giá của BHXH Việt Nam, năm 2012, số nợ BHXH là 4.639 tỷ đồng, bằng 6,26% số phải thu, trong đó có trên 100 tỷ đồng khó đòi. Công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT chưa đáp ứng được yêu cầu, một số văn bản hướng dẫn chưa rõ, ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện; tính ổn định của chính sách BHXH chưa cao, một số chế độ thường xuyên thay đổi; công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu, nhất là ở các địa phương. Bên cạnh đó, chất lượng khám chữa bệnh nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Thái độ phục vụ của một số cán bộ y tế và thủ tục hành chính trong khám, chữa bệnh còn gây bức xúc cho người bệnh; năng lực và trách nhiệm của một số cán bộ giám định y tế còn yếu.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên chủ yếu là do nhiều cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các chính sách, chế độ BHXH, BHYT. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan BHXH ở địa phương trong việc thực hiện chế độ BHXH chưa chặt chẽ. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật BHXH, BHYT còn yếu kém. Quản lý hệ thống BHXH, BHYT chưa được hiện đại hóa và còn thiếu chuyên nghiệp; cơ quan bảo hiểm chưa chủ động tiếp cận với các đối tượng tham gia bảo hiểm. Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao.
Để khắc phục những hạn chế và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020”.
Với quan điểm BHXH, BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội; Nghị quyết đặt ra mục tiêu thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, nhất là BHXH tự nguyện; thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân. Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; trên 80% dân số tham gia BHYT. Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn; quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ BHYT. Xây dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết đưa ra các nhóm nhiệm vụ và giải pháp chính cần phải quan tâm thực hiện. Đặc biệt, tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 21 đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp và vai trò, trách nhiệm của cấp ủy và chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi người dân trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT.
| Là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách, dự thảo kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 21 của BHXH Việt Nam tập trung vào 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trên cơ sở cụ thể hóa các nhóm nhiệm vụ của Nghị quyết 21. |