Gìn giữ nghề làm tranh Đông Hồ
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, Bắc Ninh đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể của Quốc gia. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý để Bắc Ninh lập hồ sơ di sản nghề làm tranh dân gian Đông Hồ để trình UNESCO đưa vào danh mục Di sản văn hóa cần được bảo vệ khẩn cấp, với mong muốn vực dậy một dòng tranh quý đang có nguy cơ thất truyền.
Thăng trầm nghề tranh
Đến làng tranh Đông Hồ những ngày tháng 3, vẫn thấy người, xe tấp nập ra vào nhưng nếu hỏi đến tranh Đông Hồ, thì cả làng ai cũng chỉ vào nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam. Bởi đơn giản là cả làng chỉ còn 2 gia đình nghệ nhân ấy theo nghề, còn lại những gia đình khác lấy nghề làm vàng mã để mưu sinh.
Trò chuyện với chúng tôi trong căn nhà làm tranh tại Trung tâm lưu giữ, bảo tồn tranh Đông Hồ, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho biết: nghề làm tranh Đông Hồ đã tồn tại trên 500 năm. Cho đến nay, vẫn chưa có ai nghe nói đến ông tổ làng nghề, tất cả những tinh hoa của dòng tranh dân gian đều được lưu truyền qua bàn tay các nghệ nhân dân gian từ đời này sang đời khác. Trước năm 1944, dòng tranh này ở thời kỳ phát triển cực thịnh. Khi ấy, làng Đông Hồ có tới 17 dòng họ làm tranh. Thế rồi, chiến tranh xảy ra, giặc Pháp về đóng quân trong làng. Dân làng người đi tản cư, người ở lại phải chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt cũng khiến cho hơn 100 hộ làm nghề ở đây tan tác, không còn người làm tranh, cũng không còn người mua tranh Đông Hồ...
Năm 1967, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Bắc (cũ) ký hợp đồng với Nhật Bản thành lập đội sản xuất tranh. Thời gian đầu đội chỉ in cầm chừng mỗi tháng được trên dưới 1.000 tờ. Từ năm 1970 đến 1985, tranh Đông Hồ được xuất sang 12 nước. Đây cũng là thời kỳ làng tranh phát triển trở lại, lúc đó nhiều gia đình tham gia vào tổ hợp sản xuất tranh xuất khẩu, hầu như cả làng sống nhờ tranh. Nhưng từ cuối những năm 80 và đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây, do sự thay đổi về nhu cầu thẩm mỹ, thói quen chơi tranh Đông Hồ của người dân không còn, tranh sản xuất ra không có người mua, làng tranh Đông Hồ rơi vào quên lãng, cả làng hầu như không còn có người làm tranh, mà chuyển hẳn sang làm vàng mã để sinh sống…
Có đầu ra là tranh sống
Từ 17 dòng họ làm tranh, đến giờ chỉ còn có 2 gia đình nghệ nhân tâm huyết cố bám trụ với nghề, quả là một điều đáng buồn đối với một dòng tranh dân gian quý. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế tâm sự: “Sinh ra và lớn lên từ làng tranh, tôi cảm nhận và hiểu rõ nguy cơ mai một của nghề tranh truyền thống. Tiếc cho một nghề truyền thống, nên khi về hưu năm 1991, tôi đã bàn với gia đình thôi không làm vàng mã, mà quay lại làm tranh. Sau nhiều năm tích cóp, dành dụm, gia đình tôi đã mạnh dạn thuê đất, đầu tư vốn để xây dựng một Trung tâm lưu giữ, bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ”. Trung tâm này không chỉ là nơi trưng bày, giới thiệu và bán những bức tranh Đông Hồ, mà còn giúp những ai yêu mến dòng tranh này có thể đến và tự tay thực hiện các công đoạn để in những bức tranh đó lên giấy.
Ngoài gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, trước đây là tổ trưởng tổ sản xuất tranh xuất khẩu. Ông Sam cũng là người vô cùng gắn bó với nghề tranh, nên dù trải qua nhiều khó khăn, ông vẫn bám trụ với nghề. Giờ đây, con trai ông, anh Nguyễn Hữu Quả cũng tiếp tục theo nghề vẽ tranh, và theo như ông Sam nói, đó là “niềm vui không tưởng” của ông, bởi gia đình ông vẫn có người nối nghiệp tổ tiên, vẫn còn có người tiếp tục gìn giữ kho báu của tổ tiên...
Nghe tin nghề làm tranh được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của Quốc gia, những nghệ nhân làm tranh Đông Hồ đều rất vui mừng, phấn khởi. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam tâm sự: “Mặc dù rất cố gắng giữ nghề cha ông, nhưng những nghệ nhân làm tranh Đông Hồ như chúng tôi đang gặp khó khăn bởi không có đầu ra. Vì không có đầu ra, không có thu nhập nên rất nhiều người dù còn tâm huyết vớái nghề, yêu nghề cũng vẫn không đủ can đảm quay lại làm nghề, đó là điều rất đáng tiếc”. Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, để bảo tồn nghề tranh, không có gì khác hơn là yếu tố con người. Đó là phải đào tạo được thế hệ kế cận tâm huyết với nghề, hiểu biết về tranh thì mới có thể tuyên truyền đúng, mới thấy được cái hay, cái đẹp của nghề làm tranh, có thể mới giữ được nghề cha ông.
Hy vọng với việc nghề làm tranh dân gian Đông Hồ trở thành Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, tiến tới xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO đưa nghề làm tranh Đông Hồ vào danh mục “Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp” cùng với phương án phục hồi dòng tranh, nghề làm tranh Đông Hồ sẽ tiếp tục gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa đặc biệt của nó cho muôn đời sau.