Ba trường phái về xã hội công dân
Hai trường phái về pháp quyền tự nhiên nhìn nhận con người, ngoài những giá trị chung nhất ra, còn theo đuổi nhiều giá trị riêng khác để thỏa mãn tự do. Xã hội tồn tại rất nhiều mục tiêu đa dạng và nhà nước chỉ là để thực hiện một số trong những mục tiêu đó, người dân lập ra các cộng đồng chính trị, trao quyền lực cho nhà nước, nhưng vẫn giữ lại cho mình một số (hay nhiều) quyền.
Cách tiếp cận truyền thống và hiện đại về pháp quyền tự nhiên đã dẫn đến ba trường phái về xã hội công dân với những quan niệm khác nhau về dân chủ và các hình thức chính phủ cũng như về mối quan hệ giữa xã hội công dân và nhà nước.
Trường phái thứ nhất bắt đầu từ John Locke (1632 - 1704). Locke định nghĩa trạng thái tự nhiên là trạng thái (con người) tự do hoàn toàn để thực hiện hành động của mình, từ bỏ của cải và bản thân mình, nếu họ thấy phù hợp trong những giới hạn của quyền tự nhiên, mà không cần xin phép hoặc phụ thuộc vào ý chí của bất cứ một người nào khác. Nhưng cũng có những luật lệ riêng mà mọi cá nhân phải tuân theo như: không ai có quyền làm hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do và sở hữu của người khác. Trạng thái tự nhiên chỉ biết đến tư pháp và mỗi cá nhân buộc phải phán xử và trừng trị những kẻ vi phạm quyền của mình. Sự thiếu tổ chức đó dẫn đến sự mất an toàn của những cá nhân và của cải. Vì vậy, để bảo đảm các quyền tự nhiên và an ninh, con người xây dựng xã hội chính trị hay xã hội công dân. Họ tạo ra khế ước để lập ra Chính phủ trung thành với họ, giữ lại quyền thay đổi Chính phủ nếu Chính phủ đi chệch đường. Trường phái của Locke dẫn đến việc nhấn mạnh vào sự tự trị, coi xã hội công dân là một nguồn đối kháng với nhà nước và giấc mơ cực đoan là xóa bỏ chính trị.
![]() Triết gia John Locke |
Trường phái thứ ba về xã hội công dân với người khởi xướng là Hegel. Ông coi xã hội công dân là địa hạt để các cá nhân tìm kiếm các lợi ích. Do sự phụ thuộc lẫn nhau của các cá nhân trong xã hội, Hegel nhấn mạnh nhu cầu có những hội đoàn, luật pháp và một nhà nước bao quát toàn bộ để kết hợp các cá nhân vào nhu cầu của cộng đồng và cung cấp một lĩnh vực tự do trong đó họ có thể mưu cầu được các lợi ích cụ thể. Jurgen Habermas quan niệm xã hội công dân là một lĩnh vực mà ở đó ý kiến chung được tạo ra thông qua thảo luận tự do, không áp đặt các ý tưởng hay lợi ích, trong đó các cá nhân đạt được sự hiểu biết về các mục tiêu chung và thực hiện việc kiểm soát nhà nước, đó là lĩnh vực của sự đoàn kết dựa trên lý trí.
Kế thừa tư tưởng về xã hội công dân của Rousseau, trường phái này cho rằng ngoài sự bất bình đẳng trong trạng thái tự nhiên còn một sự bất bình đẳng khác đó là sự bất bình đẳng về tinh thần hay chính trị. Sự bất bình đẳng về mặt xã hội là do hành vi có ý thức của con người tạo ra trong đó hành vi, phẩm chất của con người lại là kết quả nhào nặn của xã hội. Muốn xóa bỏ những bất hạnh trong cuộc sống cá nhân cần phải xóa bỏ những điều xấu trong xã hội. Xuyên suốt trường phái này, xã hội công dân được coi là liên quan đến phương thức giáo dục và thỏa hiệp, thái độ khoan dung và coi trọng những người khác. Nó mở ra tiềm năng trong việc tạo ra tính tiên phong của tầng lớp tinh hoa. Tự do của con người đã chuyển từ tự do bị động sang tự do chủ động, đó là một bước phát triển cao trong nhận thức của con người về bản thân đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, là khi “tự do của một người là điều kiện cho tự do của tất cả mọi người”.
Khi phân tích các vấn đề làm thế nào để hiện thực hóa “tự do” bằng con đường chính trị, Hegel kết luận rằng, xã hội công dân cần được xem xét như một lĩnh vực tách biệt với nhà nước, chính xã hội tư sản (khác với xã hội phong kiến trước đó) đã làm nổi rõ sự khác biệt của đời sống cá nhân với đời sống công dân, làm cho con người bị tách rời, xa lạ với đời sống chính trị. Và do đó, có sự tách biệt tương đối các hoạt động dân sự với các hoạt động chính trị (nhà nước), hay nói cách khác, tách biệt xã hội công dân với xã hội chính trị. Đây là sự phân biệt hết sức quan trọng về mặt khái niệm, đánh dấu một bước tiến mới trong các nghiên cứu về xã hội công dân, theo đó, các quan hệ chính trị và quan hệ xã hội được nghiên cứu tách biệt.
Kế thừa nhiều tư tưởng về xã hội công dân của Hegel, Marx khẳng định xã hội công dân là một lĩnh vực tồn tại độc lập với nhà nước (lĩnh vực phi chính trị), mặc dù hoạt động của xã hội công dân mang những hình thức chính trị nhất định. Khi bàn về bản chất của xã hội công dân, một mặt, Marx cho rằng bản chất của con người là ích kỉ, tư lợi. Nhưng mặt khác, ông khẳng định rằng con người cũng mang bản chất cộng đồng và chính bản chất cộng đồng này mới là cái cấu thành nên bản chất thật sự của xã hội công dân. Ông nhấn mạnh: “Cái gọi là nhân quyền khác với các quyền của công dân chẳng qua chỉ là những quyền của thành viên xã hội công dân, nghĩa là của con người vị kỉ tách khỏi bản chất con người và tính cộng đồng của con người”. Con người với tư cách là thành viên của xã hội công dân, có nghĩa là con người theo đúng nghĩa của nó, trong sự tồn tại cảm tính, cá nhân, trực tiếp của nó, còn con người chính trị thì chỉ là con người trừu tượng, nhân tạo, con người với tư cách là nhân vật ẩn dụ, nhân vật pháp lý”.
Được hoàn thành với sự giúp đỡ của Ths. Bùi Việt Hương
Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
