Chỉ xơi đậu và đỗ
Truyện ngắn của Hoàng Trọng Dũng
Tác giả Hoàng Trọng Dũng (1948 - 2013) mới đột ngột qua đời ở Đà Nẵng vì bệnh hiểm nghèo. ĐBND xin chia buồn cùng gia quyến và giới thiệu với bạn đọc một truyện ngắn tác giả gửi đến tòa soạn trong thời gian gần đây.
![]() Minh họa của Thúy Hằng |
Vậy nên khi nhận thông báo chuẩn bị đi thi chuyên viên cao cấp, hắn mừng đến tận đáy lòng. Hắn không dám tự cho mình hiền, nhưng rõ ràng hắn đã gặp lành. Hắn đã được các sếp quan tâm chiếu cố. Cả công ty của hắn chỉ có ba người đi thi trong đó hắn là một. Chỉ nguyên điều ấy, dù trời nóng bức ngột ngạt, lại mất điện, hắn vẫn thấy mát - mát lòng mát dạ và mát cả lỗ mũi. Việc đầu tiên, hắn nhấc điện thoại ngỏ lời cám ơn ông trưởng phòng tổ chức cán bộ của công ty. Hắn định gọi điện thoại cám ơn cả ông tổng giám đốc, nhưng sau mấy lần cầm máy, hắn vẫn phân vân. Hắn ngại làm phiền ông tổng giám đốc. Người ta trăm công nghìn việc lớn nhỏ, thời giờ đâu đi nghe lời cám ơn của hắn. Hắn võ vẽ đôi ba chữ Kinh dịch. Hắn mạng hỏa - ly trung hư, bề ngoài dữ dội hùng hùng hổ hổ thực chất chẳng bụng dạ gì, nhát còn hơn gái quê mới lên phố. Quyết định không gọi cho ông tổng giám đốc, hắn dự tính gọi cho vợ hắn. “Niềm vui sướng chia đôi là hai niềm vui sướng” - hắn không chia sẻ hạnh phúc này cho vợ hắn thì còn chia cho ai? Nhưng suy đi nghĩ lại hắn thấy thế là hạ sách. Khoe, tức đã đặt mình vào vị trí của kẻ yếu. Không chừng vợ hắn còn bĩu môi nguýt mắt. Kinh nghiệm công tác cho hắn biết rằng hình thức tổ chức thông tin trong nhiều trường hợp ngang giá với thông tin. Hắn nghĩ ra một mẹo nhỏ. Hắn đút tờ thông báo vào cặp, đem cặp về nhà vất trên bàn, rồi qua nhà hàng xóm ngồi tán dóc. Buổi tối lúc lên giường, hắn nằm im giả vờ ngủ nhưng thực ra tỉnh còn hơn con sáo lúc chưa có đại dịch H5N1. Đúng như hắn dự đoán, nằm chưa ấm chỗ vợ hắn đã hỏi “Thế lần này đi thi thật đấy à? Hắn khoái trá, như vừa được gãi đúng chỗ ngứa, nhưng làm ra vẻ khinh bạc “Ừ... ngủ đi”. Hắn biết trong nhà vợ hắn là người ra lệnh nên chắc chắn nàng không nghe lời hắn. Quả nhiên vợ hắn không chịu ngủ. “Thế thi có khó không, chương trình thế nào?” Hắn làm ra vẻ quan trọng “Chuyên viên cao cấp, khó là cái chắc. Thi bốn môn - pháp luật, vi tính, chuyên môn và tiếng Anh”. Vợ hắn sửa chỗ nằm, xích lại gần hắn, thở dài “Cái môn tiếng Anh, mấy năm rồi có thấy anh sờ mó gì đâu, thi thế nào nhỉ?” Câu tâm tình của vợ vô tình làm hắn giật mình, vừa thích thú vừa lo lắng. Hắn thích cái từ “sờ mó” (ấy, cứ lên giường là đầu óc hắn méo mó lệch lạc). Còn từ làm hắn sợ là từ “tiếng Anh” - cái môn hắn dốt bậc nhất thiên hạ, cái môn ám ảnh làm cho hắn ăn không ngon ngủ không yên trong kỳ thi này. Hồi còn đi học lớp tiếng Anh ban đêm, cô giáo gọi hắn lên bảng, nói kháy “Có một trăm người dốt tiếng Anh, chín mươi chín người đã về với Chúa, chỉ còn mỗi mình anh”. Trong bộ não của hắn hình như không tồn tại vùng ngôn ngữ, hoặc nếu có, thì nó chỉ bé bằng hạt đậu. Đến tiếng mẹ đẻ hắn còn lập bập huống hồ tiếng Anh. Mới rồi gặp lại người bạn gái thuở học trò, nàng nửa đùa nửa thật trêu hắn “Cái đêm ở đường Láng, anh nói anh anh yêu em em chứ có phải anh yêu em đâu”. Hắn cười xòa, té nước theo mưa, kể cho nàng nghe hồi chuẩn bị nhập ngũ, hắn vừa mở miệng “Báo cáo anh... anh... em... em... em...”, thì đồng chí sĩ quan đã sốt ruột cắt ngang “Tốt, cho cậu giữ súng liên thanh”. Mà giả như phải thi mới được lên lương - hắn tự hỏi - tại sao cứ nhất thiết phải thi môn ngoại ngữ? Cả đời hắn, mấy khi hắn phải tiếp xúc với người nước ngoài? Nếu như cần làm việc với ông Tây này bà đầm kia, hẳn người ta bố trí phiên dịch, đâu đợi đến lượt hắn. Mới lại, ngôn ngữ nói đâu phải là phương tiện diễn đạt duy nhất? Hắn gặp một cô người nước ngoài xinh đẹp trên tàu, hỏi “Do you speak English?”(1). Hắn cười toe toét “My English is very poor. I can’t speak English by my mouth, but I can speak English by my hand.”(2). Cô người nước ngoài cười như chưa bao giờ được cười. Và rồi sau đó, hắn và nàng đã nói chuyện bằng tay, hiểu nhau còn hơn mình với ta. Hắn đâm oán trách “thằng cha” nào đã đưa môn ngoại ngữ vào kỳ thi. Hắn nghĩ “thằng cha” này chắc chắn quan liêu, sách vở, xa rời thực tế. Hắn thở dài, dự tính sống chết gì từ ngày mai cũng phải lao đầu vào học lại tiếng Anh...
Lúc hắn ngồi viết những dòng này thì kỳ thi đã kết thúc. Một tuần ở Hà Nội, hắn hiểu ra không chỉ riêng hắn lo. Trên dưới bốn chục anh em, không ai không thấp thỏm. Trên dưới bốn chục ông, tóc trên đầu đã sợi đen sợi trắng, đã vào sinh ra tử, đã dày dạn trận mạc, phút chốc biến thành những đứa trẻ như có phép mầu. Phép mầu ấy chính là kỳ thi. Nhóm của hắn “góp gạo thổi cơm chung”, đặt ăn ngay tại khách sạn cho đỡ mất thời gian. Thực đơn chỉ rặt đậu với đỗ. Sáng hôm nay điểm tâm xôi đỗ xanh thì sáng ngày mai chắc chắn xôi đậu phụng. Buổi trưa ăn đậu rán, buổi chiều hẳn sẽ đậu rim. Hắn ngán đến tận cổ nhưng tự nhủ có kiêng có lành, ráng sức nhồi nhét những đậu những đỗ vào bụng, hy vọng sẽ đỗ sẽ đậu. Hắn đi đứng cẩn trọng, túc tắc từng bước như trẻ mới tập đi, nhưng không hiểu sao cứ vấp. Hắn cúi xuống buộc dây giày, cái bút bi gài trên túi áo rớt xuống đất. Hắn càng đề phòng, điềm rủi càng đeo bám. Hắn lo lắng, tivi không dám bật, báo chẳng dám xem, đêm nào cũng thức đến gần sáng vùi đầu vào sách vở tài liệu. Mà nào đâu chỉ tiếng Anh? Còn vi tính, chuyên môn, còn pháp luật, còn trăm thứ phải lo, phải để mắt tới. Sau một tuần, hắn sút đúng bốn ký lô.
Cuộc đời hắn mười năm học phổ thông, năm năm mài đũng quần trên ghế trường đại học, còng lưng những kỳ thi cử, cho đến tận giờ. Hắn sinh ra, lớn lên và già đi trong một cái xứ giàu truyền thống thi cử. Hắn biết làm thế nào?
1. Anh có biết nói tiếng Anh không?
3. Cô rất dễ thương nếu cô cho tôi biết tên cô.
