“Jerusalem Nhỏ” trong lòng nước Ý
Làng được người Etruscan thành lập, từng là trụ sở tin cậy của dân Do Thái định cư ở đây vào đầu thế kỷ XVI. Họ chủ yếu đến từ các vùng lân cận Lazio, nơi thường xuyên bị giáo hội La Mã bài Do Thái xua đuổi. Bài viết của Abby Ellin trên tờ Thời báo New York.
Cha mẹ tôi có một nghi lễ không chính thức: khi du lịch đến bất cứ nơi nào, cho dù là Paris, San Francisco hay Havana, họ muốn thăm người Do Thái sống ở đó. Họ đến hội đường, tìm kiếm những người Do Thái địa phương và tặng quà. Đó là cách để họ cảm thấy mối liên kết với lịch sử, và cũng thể hiện tinh thần đoàn kết.
Trong những năm qua, tôi hay nhẹ nhàng trêu chọc họ về thói quen ấy. Ai bổ nhiệm họ làm sử gia của người Do Thái trên toàn thế giới đâu? Tuy nhiên, càng lớn lên tôi thấy mình càng đi theo con đường của cha mẹ mình.
![]() Làng trung cổ Pitigliano |
Ở Pitigliano, tôi gặp Rafaella Agresti – một hướng dẫn viên bản xứ nói tiếng Anh lưu loát. Chúng tôi đi qua chiếc cổng thời trung cổ để vào thành phố cổ, ghé qua Orsini Palace – một pháo đài từ thế kỷ XIV, từng là nhà thờ của San Rocco, nay là một bảo tàng. Những phế tích của hệ thống dẫn nước xây dựng bởi gia đình Medici thế kỷ XVII còn giăng ngang thị trấn.
Khi đứng định hướng tỉ mỉ những con đường, cô Agresti kể rằng người Do Thái và người Công giáo ở Pitigliano đã từng chung sống hòa bình. Trong thế kỷ XVI, một thành viên của gia đình phong kiến Orsini là bá tước Niccolo Orsini IV nắm quyền cai trị Pitigliano – một lãnh địa độc lập có cư dân chủ yếu là nông dân. Mặc dù theo Công giáo, ông nghĩ người Do Thái, hầu hết làm ngành ngân hàng và thủ công, có thể giúp phục hồi nền kinh tế Pitigliano đang tụt hậu. Vì vậy, trong khi người Do Thái ở những nơi như Umbria và Lazio bị cầm tù hay lưu đày, còn ở Pitigliano họ được làm việc như cho vay tư nhân, thợ mộc, thợ chữa giày và thợ may.
Điều tốt đẹp ấy thay đổi nhiều sau khi gia đình Medici được Đức Giáo hoàng bổ nhiệm lên nắm quyền. Năm 1622, người Do Thái ở Pitigliano bị giới hạn trong một khu ổ chuột, đàn ông bị ép đội mũ đỏ, và phụ nữ phải có phù hiệu màu đỏ trên tay áo. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa người Do Thái và không phải Do Thái vẫn thân thiện, năm 1773, Pietro Leopoldo – đại công tước Công giáo xứ Tuscany – chính thức công nhận người Do Thái ở Pitigliano, nghĩa là người Do Thái được tự do sinh sống. Năm 1799, khu ổ chuột bị xóa sổ, và đến năm 1850 đã có khoảng 400 người Do Thái sinh sống trong thành phố, chiếm khoảng 10% dân số. Nhưng 11 năm sau đó, số lượng này bắt đầu giảm xuống khi nước Ý thống nhất cấp quyền bình đẳng và tự do đi lại trên toàn quốc cho người Do Thái. Nhiều người chuyển đến Florence, Rome hoặc các nơi khác.
Đến năm 1938, khi luật phân biệt chủng tộc của phát xít được áp dụng, chỉ có khoảng 60 người Do Thái đang sống ở Pitigliano, trong số đó có gia đình của Elena Servi.
Sinh ra ở Pitigliano, nay 82 tuổi, bà Servi đã dành hết cuộc đời để bảo tồn và khôi phục lịch sử Do Thái ở quê hương mình. Tôi đã sẵn sàng gặp bà tại Hiệp hội Jerusalem Nhỏ – một tổ chức văn hóa gồm khoảng 150 người Do Thái và không phải Do Thái từ khắp nơi trên thế giới. Bà Servi thành lập hiệp hội này vào năm 1996, cùng với con trai là Enrico Spizzichino. Trụ sở nằm bên trong một dãy tòa nhà thông nhau, một trong số đó là bảo tàng Văn hóa Do Thái.
Bà Agresti đi cùng tôi dưới vòm cung có gắn phù điêu hình bán nguyệt đề dòng chữ “La Piccola Gerusalemme: Antico Quartiere Ebraico” (chữ Do Thái cổ) để vào viện bảo tàng, nơi bà Servi là “chủ nhà”. Kể từ lúc bà không sử dụng tiếng Anh nữa, chúng tôi trò chuyện bằng một hỗn hợp tiếng Do Thái và tiếng Ý hạn chế của tôi.
“Chúng tôi không hề xấu đối với người không phải dân Do Thái”, bà nói. “Là bạn bè, chúng tôi chia sẻ bánh mỳ của mình ở lễ Vượt qua và sôcôla của họ trong lễ Phục sinh”. Bà cho biết, bà và gia đình đến từ Đức đã sống sót qua Thế chiến thứ II là do được các nông dân Công giáo tại thung lũng bảo vệ. Bà cũng đã từng cùng gia đình lẩn trốn trong một hang động suốt ba tháng nhờ được láng giềng cung cấp thực phẩm và nước uống. Khi bà trở lại, chỉ còn khoảng 30 gia đình Do Thái sống ở Pitigliano. Trừ hơn một thập kỷ ở Israel, bà đã sống toàn bộ quãng đời còn lại ở Pitigliano.
Tôi bước xuống cầu thang đi đến những căn hầm để tìm một phòng tắm theo nghi thức Do Thái; một “forno delle azzime” hay còn gọi là lò nướng bánh mì men hoặc không men (được sử dụng cho đến năm 1939); một phòng dệt nhuộm; một hầm rượu vang và một khu chế biến thịt theo luật Do Thái - tất cả đều được đào vào vách đá. Nắng xuyên qua cửa sổ, in đậm lên tường.
Giáo đường Do Thái mặc dù đã lâu không tổ chức sự kiện gì, nhưng được mở cửa để tham quan. Tòa nhà hai màu vàng và trắng, băng ghế dài được chạm khắc, bục giảng gỗ và tủ đựng Ngũ Thư, đã được phục hồi vẻ đẹp tráng lệ như năm 1598 sau khi mái nhà sụp xuống vào năm 1961. Từ bộ sưu tập của họ, qua các bức tranh gỗ phức tạp, hình ảnh phụ nữ xuất hiện mờ nhạt như thông lệ trong Do Thái giáo chính thống. Trong sân, một tấm bảng tưởng niệm 22 người Do Thái sinh ở Pitigliano bị sát hại trong các trại tập trung.
Dù cộng đồng người Do Thái ngày nay ở Pitigliano chỉ còn có bà Servi, con trai bà, một cháu trai và ba đứa chắt, đừng nhầm lẫn rằng họ không có ảnh hưởng ở đây. Sfratti - bánh quy hình gậy có nhân làm bằng quả óc chó, mật ong, hạt nhục đậu khấu, vỏ cam nhồi trong bột - là một món đặc sản địa phương. Từ sfratti có nguồn gốc từ sfratto, có nghĩa là “bị đuổi khỏi nhà cửa, đất đai” trong tiếng Ý. Truyện cổ kể rằng cảnh sát dùng gậy đánh người Do Thái, đuổi họ vào các khu ổ chuột, về sau, người Do Thái muốn biến kỷ niệm về nỗi đau ấy thành một thứ ăn được nên mới có “bánh gậy”. Từ vựng Do Thái cũng đã thâm nhập vào ngôn ngữ địa phương. Gadol - tiếng Do Thái nghĩa là lớn – đã biến thành từ “Gadollo” ở Pitigliano. Hay, kasher có nghĩa lỏng lẻo, là một biến thể của “kosher”. Tốt đẹp hoặc OK, nhiều nhà ở đây vẫn gọi là “mezuzas”.
Văn hóa bên ngoài cũng ảnh hưởng đến người Do Thái, đáng chú ý nhất là trong nghĩa trang của người Do Thái nép mình dưới rừng bách ở quốc lộ 74. Không giống các nghĩa trang truyền thống của người Do Thái, một số ngôi mộ ở đây trang trí hình ảnh các thiên thần và đặt bức tượng của một cô gái - như một sự tán thành giáo lý Kitô là “chết để phục sinh” – bà Servi nhìn nhận.
Khu phố Do Thái chỉ là một khoảnh đất trong thành phố, phần còn lại của Pitigliano thì nhỏ bé. Mất chỉ chừng ba giờ để đi lang thang các khu ổ chuột và mê cung đường phố, quanh co cầu thang, quảng trường cùng các cửa hàng trong khu vực lịch sử. Sau khoảng năm phút không còn chỗ nào để đi nữa, tôi đành thưởng thức mặt thứ hai của nơi này. Người dân địa phương chào đón bằng phong cách Ý đặc biệt, luôn sẵn sàng với một nụ cười và sự nhiệt tình. Đàn ông ngồi trên ghế nhấm nháp rượu vang mà họ chưng cất trong các hầm rượu. Họ vui vẻ mời khách nếm thử hương vị, và tôi vui vẻ đón nhận.
Từng đường phố và ngõ hẻm rõ mồn một trong tầm nhìn ngoạn mục từ các ngọn đồi rải rác với những lùm cây ô liu, hạt dẻ, sồi và thông. Khu vực này được nhấn mạnh với các đường hầm và hang động lõm vào vách đá, được gọi là hang động Vie (đường mòn Etruscan).
Trước khi rời khỏi nơi này, tôi đã làm như cha mẹ mình khi đi du lịch, là có chút đóng góp cho Hiệp hội Jerusalem Nhỏ. Lời của bà Servi rất ý nghĩa: “Ai mà biết được nơi này sẽ ra sao trong hai mươi năm nữa. Chúng ta phải bảo vệ quá khứ càng lâu càng tốt”.
