Quan điểm sở hữu toàn dân phải có tác dụng xuyên suốt, là linh hồn của luật

Minh Vân lược ghi 19/11/2012 16:53

Thảo luận về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), nhiều ý kiến tán thành với quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nhưng đề nghị phải nêu rõ khái niệm sở hữu toàn dân, cơ chế để thực hiện quyền sở hữu đó như thế nào? Nhà nước thực hiện nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu cụ thể ra sao? Quyền nào thực hiện thông qua QH và HĐND các cấp và quyền nào thực hiện thông qua Chính phủ và UBND các cấp. Mặt khác, quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai chưa được thể hiện rõ. Vấn đề này phải có tác dụng xuyên suốt trong các quy định của luật, là linh hồn của luật, tạo ra sự nhất quán, hợp logic của các điều luật, từ đó tạo sự thống nhất trong thực hiện và đem lại hiệu quả cao…

ĐBQH Giàng Páo Mỷ (Lai Châu): Cần quy định giá đền bù phù hợp so với khả năng sinh lợi từ hoạt động đầu tư, sản xuất trên đất
 
Tôi nhất trí với Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế về nội dung sửa đổi Luật Đất đai năm 2003. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này là cần thiết nhằm đáp ứng sự mong đợi của cử tri và nhân dân cả nước. Tôi hy vọng rằng với việc sửa đổi lần này Luật Đất đai sẽ khắc phục được nhiều bất cập, hạn chế trong quản lý nhà nước về đất đai như hiện nay, nhất là tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai.

Về căn cứ xác định loại đất tại Khoản 4 Điều 11 quy định một trong các căn cứ để xác định các loại đất là theo hiện trạng sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Tuy nhiên, đối với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa thì tỷ lệ đất đai được quy hoạch, sử dụng là rất thấp. Do đó không thể xác định được loại đất căn cứ vào hiện trạng sử dụng có phù hợp với quy hoạch hay không. Tôi đề nghị cần nghiên cứu, bổ sung thêm quy định về xác định loại đất trên thực địa đối với nơi chưa có quy hoạch nhằm bảo đảm Luật Đất đai (sửa đổi) khi có hiệu lực sẽ áp dụng khả thi ở tất cả các địa phương.

Về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ. Nhà nước khi thu hồi đất tại Khoản 1 Điều 71 quy định giá đất tính tiền bồi thường theo mục đích đang sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Tôi cho rằng quy định này là phù hợp, tuy nhiên vấn đề đặt ra là làm thế nào quản lý, kiểm soát, tránh tình trạng đầu cơ đất nông nghiệp tiếp diễn như trước đây. Vì nếu quy định mục đích sử dụng đất là căn cứ xác định giá đất đễ tạo kẽ hở cho một số đối tượng lợi dụng chính sách gom đất nông nghiệp để chuyển đổi mục đích sử dụng. Vì vậy, theo tôi giải pháp quan trọng là phải thực hiện tốt chế độ công khai, minh bạch về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho người dân biết. Và cũng tại Khoản 6 Điều này, tôi đề nghị bổ sung cụm từ "kịp thời" vào sau cụm từ "công bằng" nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khi thực hiện bồi thường, hỗ trợ. Thực tế cho thấy tình trạng chậm chi trả, nợ tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất diễn ra ở nhiều nơi, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân có đất bị thu hồi và gây bức xúc trong nhân dân.

Đối với chính sách hỗ trợ, chuyển đổi nghề và tạo việc làm tại Điểm b, Khoản 3, Điều 73 dự thảo Luật quy định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp ngoài việc được bồi thường về đất theo quy định Nhà nước hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm từ nguồn thu từ đất. Diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. Thực tế, hiện nay chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm đang được áp dụng theo quy định tại Nghị định 69 của Chính phủ. Tuy nhiên, qua giám sát ở địa phương cho thấy quy định mức hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng tiền từ 1,5 - 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chưa phù hợp với điều kiện phát triển KT - XH ở các địa phương.

Tại các đô thị lớn, sau khi tính cả mức hỗ trợ giá đất vẫn còn cách biệt so với giá thị trường trong khi tại các tỉnh miền núi và trung du, mức hỗ trợ như vậy là lớn. Nhiều dự án gặp khó khăn, nhất là trong việc xây dựng các công trình công cộng vì chi phí đền bù, hỗ trợ cao hơn chi phí xây lắp vì hạn mức đất nông nghiệp theo quy định tại các địa phương này là rất lớn, trong khi đó nguồn thu từ sử dụng đất lại rất ít. Hơn nữa, việc hỗ trợ chủ yếu thực hiện chi trả bằng tiền trong khi đó người dân không thể tự mình học nghề và chuyển đổi việc làm nên hiệu quả của chính sách này không đạt được. Đặc biệt là đối với các tỉnh miền núi, đồng bào đã quen với phong tục tập quán sản xuất nông nghiệp, nên người dân sau khi bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy, tôi đề nghị cần quy định rõ về điều kiện làm việc và chính sách an sinh xã hội cho những người có đất bị thu hồi.

Về giá đất do Nhà nước quy định Điều 99, tôi nhất trí với phương án 1 trong dự thảo Luật  nhằm bảo đảm sự linh hoạt cho các địa phương trong việc điều chỉnh giá đất kịp thời, chủ động và phù hợp với sự biến động của thị trường trong từng thời kỳ. Nếu bảng giá đất xây dựng định kỳ 5 năm là quá dài, không phù hợp với sự biến động thường xuyên của giá thị trường sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Nhất là đối với những dự án bị kéo dài qua nhiều năm, để hạn chế việc lấy đất nông nghiệp, nhất là đất trồng cây lương thực để thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng... Luật cần quy định giá đền bù phải phù hợp so với khả năng sinh lợi từ hoạt động đầu tư, sản xuất trên đất tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống.
 
ĐBQH Touneh Drong Minh Thắm (Lâm Đồng): Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với đồng bào nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số
 
Nước ta là nước nông nghiệp, khoảng 70% dân số là nông dân, 90% lao động người dân tộc thiểu số sống bằng nghề nông, vì thế đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào ở nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng, Nhà nước đã luôn quan tâm đến việc nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát thì mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn thấp so với nhóm dân tộc đa số, về kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Vấn đề đất sản xuất một trong những nguồn lực quan trọng nhất đối với đồng bào vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng, các hộ dân tộc thiểu số có đất vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực này. Trong khi đó các chính sách pháp luật về đất đai chưa phù hợp với các đặc điểm sử dụng đất truyền thống của các nhóm dân tộc thiểu số là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề trong đời sống xã hội như xung đột đất đai, sử dụng không hiệu quả. Bởi vậy để giúp đồng bào ổn định đời sống và phát triển kinh tế bền vững thì chính sách đất đai cần tuân thủ các quan điểm như sau. Bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số, tôn trọng giá trị truyền thống và đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo cơ hội cho các nhóm dân tộc thiểu số thích nghi và hưởng lợi từ cơ chế thị trường, giảm bất ổn trong xã hội.

Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, số đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở, đất sản xuất là khá lớn, có 558.485 hộ nhưng với quyết tâm cao trong thời gian 10 năm từ 2002 đến năm 2011, Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết đất ở, đất sản xuất cho 333.995 hộ. Kết quả này là tiền đề quan trọng, căn bản bảo đảm cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo ổn định cuộc sống và sản xuất, an tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, góp phần tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên cương của Tổ quốc.

Tôi đề nghị khuyến khích giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất sinh hoạt của cộng đồng, đất tôn giáo văn hóa cho cộng đồng dân tộc thiểu số quản lý và sử dụng xem xét giao đất vĩnh viễn và tăng hẳn mức giao đất cho các cộng đồng này. Thu hồi đất nông, lâm nghiệp của các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả để giao cho các hộ gia đình và cộng đồng dân tộc thiểu số có nhu cầu và khả năng sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Hai, miễn giảm tiền sử dụng đất ở, đất sản xuất, tiền thuê đất nông nghiệp cho hộ nghèo và cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo. Ba, bảo đảm hoàn thiện việc đo đạc lập bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian sớm nhất. Bốn, miễn giảm lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ dân tộc thiểu số. Thành lập tổ chức hỗ trợ pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trong những trường hợp tranh chấp đất đai.

Tại một số điều, khoản tôi đề nghị bổ sung như sau: Điều 10 đề nghị bổ sung các nội dung quy định có tính nguyên tắc về bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng trong lĩnh vực đất đai cụ thể "nhà nước có chính sách bảo đảm đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có đất hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất". Điều cần bổ sung các quy định nghiêm cấm việc đầu cơ mua bán, bao chiếm đất đai trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới. Đối với các loại đất thuộc diện được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như giao đất không thu tiền chỉ được mua bán, chuyển đổi, tặng, cho, khi được các cơ quan có thẩm quyền cho phép. Đề nghị ghi rõ thêm việc mua, nhận, chuyển nhượng đất do Nhà nước hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số là trái pháp luật sẽ bị thu hồi và xử lý theo quy định. Điều này giao Chính phủ có quy định riêng...
 
ĐBQH Danh Út (Kiên Giang): Tại sao chỉ có 3 cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất?
 
Dự thảo Luật quy định lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm ba cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện. Tại sao chỉ có ba cấp quy hoạch? Kế hoạch sử dụng đất không có quy hoạch cấp xã, trong khi đó là cấp cơ sở để quy hoạch, kế hoạch chi tiết là cấp quản lý trực tiếp đất đai. Do đó, tôi đề nghị giữ quy hoạch cấp xã như Luật Đất đai hiện hành. Nếu chỉ có quy hoạch cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện là những tầm quy hoạch rất rộng sẽ có nhiều quy hoạch “treo”, cản trở sự phát triển gây ra sử dụng đất đai không hợp lý.

Vấn đề thứ hai, về thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng ở nước ngoài, dự thảo Luật quy định cho phép tổ chức sử dụng đất để thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại ngân hàng ở nước ngoài. Tôi đề nghị cần xem xét lại vì đây là vấn đề mới chưa có thực tế để tổng kết rút kinh nghiệm nên việc quy định cần cân nhắc, nhất là hậu quả pháp lý của quan hệ này, nhất là trường hợp tổ chức vay không trả được nợ ở ngân hàng nước ngoài thì xử lý tài sản như thế nào trong khi đó đất đai thuộc sở hữu của toàn dân. Do đó, tôi đề nghị chưa nên quy định vấn đề này trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Vấn đề thứ ba, về chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, gồm 54 dân tộc cùng chung sống, các chính sách phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc thiểu số. Chính sách đất đai đóng vai trò quan trọng đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Bởi vì đồng bào dân tộc thiểu số đều sinh sống bằng nghề nông, tư liệu sản xuất chính là đất đai. Luật Đất đai năm 2003 là bước tiến hết sức quan trọng nhưng ít đề cập đến tính đặc thù các dân tộc thiểu số vùng, miền. Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) lần này đã đề cập đến tính đặc thù trong dân tộc thiểu số. Có một số khoản, điều mới về dân tộc thiểu số như Điều 28, Điều 96 cơ bản tôi đồng tình. Nhưng tôi thấy vẫn còn một số đặc thù chưa được đề cập cụ thể như vấn đề điều kiện mua bán đất đai trong đồng bào dân tộc thiểu số, về nhiệm vụ, quyền hạn đối với đất cộng đồng.

Về trách nhiệm của nhà nước đối với người sở hữu đất Điều 28, Khoản C dự thảo Luật quy định nhà nước có chính sách tạo điều kiện về đất sản xuất doanh nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số, trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn mà không có đất hoặc thiếu đất sản xuất, tôi đồng tình vì đây là quy định có tính nguyên tắc về bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số trên lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, quy định trên chưa đầy đủ, còn thiếu đất ở, do đó tôi đề nghị bổ sung "đất ở" vào trước cụm từ "đất sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số" tại Khoản c, Điều 28.

Về những hành vi bị nghiêm cấm Điều 11, nhằm khắc phục tình trạng mua bán trái pháp luật về đất ở, đất nông nghiệp và lợi dụng các chính sách hỗ trợ của nhà nước, luật nên có một số quy định nhằm tránh việc người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số đã được giao đất sản xuất sau đó lại chuyển nhượng dẫn đến tình trạng mất đất sản xuất. Do đó, tôi đề nghị bổ sung một khoản tại Điều 11 như sau: nghiêm cấm việc đầu cơ, mua bán, bao chiếm đất đai trong vùng dân tộc thiểu số đối với những loại đất thuộc diện thụ hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như giao đất không thu tiền chỉ được mua bán, chuyển đổi, tặng, cho khi được chính quyền có thẩm quyền cho phép và xin đề nghị giao cho Chính phủ quy định cụ thể nhằm tránh tùy tiện trong quá trình tổ chức thực hiện. Về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tại Khoản d, Điều 96 dự thảo Luật quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, hộ gia đình nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn. Quy định trên chưa đầy đủ, thiếu đối tượng và vùng khó khăn. Do vậy, tôi đề nghị bổ sung đối tượng hộ cận nghèo và vùng có điều kiện KT -XH khó khăn là đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Khoản d, Điều 96.

Về các quyền sử dụng đất của cộng đồng, tài nguyên đất và rừng đóng vai trò quan trọng trong sinh kế của nhiều dân tộc thiểu số, quan điểm sử dụng đất cộng đồng được đề cập trong Luật Đất đai năm 2003. Tuy nhiên, việc áp dụng thực hiện còn nhiều hạn chế, do đó Luật Đất đai mới nên tạo khung pháp lý rõ ràng bằng quy định công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng theo tập tục đối với đất ở, đất rừng, đất chưa sử dụng, nhất là các tiêu chí; tăng cường hơn nữa việc giao đất cho cộng đồng quản lý, có như vậy mới hạn chế việc mua bán đất trong đồng bào dân tộc thiểu số được quy định tại Điều 164 Luật Đất đai (sửa đổi) lần này.
 
ĐBQH Mai Hữu Tín (Bình Dương): Để phát huy được hiệu quả nguồn lực đất đai, quyền lợi của tất cả các bên liên quan đều phải được tôn trọng đúng mức
 
Tôi xin trao đổi về một khía cạnh của dự thảo Luật lần này là quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp với các vấn đề liên quan đến đất đai. Mong muốn chung là Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ tạo điều kiện để phát huy được tốt nhất nguồn lực vô cùng quan trọng này cho sự phát triển bền vững của đất nước. Muốn như vậy thì quyền lợi của tất cả các bên liên quan, Nhà nước, người dân, nhà đầu tư đều phải được tôn trọng đúng mức. Nhà nước với vai trò đại diện cho lợi ích của toàn dân, cần tạo điều kiện để các giao dịch về đất được diễn ra đơn giản, nhanh chóng với chi phí hợp lý, để thu hút được nhiều hơn đầu tư vào đất. Đất chỉ tạo ra thêm giá trị khi được đầu tư và khai thác. Với quan điểm trên tôi đề nghị cân nhắc thật kỹ các điểm sau.

Một, về quyền được ưu tiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua tài sản gắn liền với đất của nhà nước quy định tại Điều 22. Theo đó khi người sử dụng đất có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì phải đăng ký việc này với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan này sẽ cân nhắc có cho nhận chuyển nhượng hay không, nếu không thì thông báo cho người sử dụng đất, nếu có thì giao nhiệm vụ cho tổ chức phát triển quỹ đất mua tài sản đó để sau đó đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Nói rõ hơn là Nhà nước trong trường hợp này trở thành tổ chức kinh doanh đất với quyền ưu tiên. Vấn đề đặt ra là tại sao người sử dụng đất không có quyền tự tổ chức bán đấu giá tài sản của mình trên đất và quyền sử dụng đất, nhà nước có thể tham gia việc đấu giá này nếu thấy cần thiết. Mặt khác cơ chế ra quyết định của Nhà nước có đủ nhanh và linh hoạt không gây cản trở đến quyền quyết định về tài sản của người sử dụng đất không? Người sử dụng đất chắc chắn nếu thấy tài sản của mình được bán theo giá thị trường và được thanh toán nhanh chóng, tổ chức phát triển quỹ đất có quyền và có tiền để tự quyết định việc mua qua cạnh tranh với các người mua khác theo nguyên tắc thị trường, sử dụng quyền ưu tiên để ép giá và điều kiện thanh toán theo ý mình, gây thiệt hại cho người sử dụng đất. Nhà nước không thể và cũng không nên tổ chức để làm các việc kinh doanh như vậy, ngân sách nhà nước được quản lý theo những nguyên tắc không nhằm phục vụ cho việc kinh doanh. Nhà nước hoàn toàn có thể dùng công cụ quy hoạch để điều chỉnh việc sử dụng đất và phục vụ cho việc phát triển chung một cách hài hòa, hiệu quả. Quyền ưu tiên mua không được thực hiện minh bạch và công bằng, gây cản trở lớn đến các giao dịch dân sự và kinh tế thông thường và rất dễ phát sinh tiêu cực.

Hai, về quyền thu hồi đất và không trả lại chi phí đã bỏ ra với đất, không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận theo Điều 55, Điểm h của dự thảo Luật. Chúng ta phải chống đầu cơ lãng phí đất nên thu hồi đất không trả lại chi phí bỏ ra không phải là cách tốt nhất để làm việc này. Kinh tế thị trường và việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu buộc chúng ta phải chấp nhận tác động của các chu kỳ kinh tế. Hãy hình dung điều luật này được thông qua và có hiệu lực tại một thời điểm trong tương lai tương tự như thời điểm chúng ta đang ngồi đây thì việc gì sẽ xảy ra. Hàng ngàn dự án trên cả nước đã bị buộc phải thu hồi đất và không được bồi hoàn gì cả dù các chủ đầu tư gặp vô vàn khó khăn khách quan không phải hoàn toàn do lỗi của họ gây ra. Chúng ta có nên làm tình hình phức tạp thêm như vậy không? Mỗi dự án sử dụng đất đều có những thuận lợi, khó khăn riêng, không lường trước được. Giúp một dự án vượt qua những khó khăn khách quan sẽ hiệu quả hơn là thu hồi không bồi hoàn và để lại nhiều hậu quả. Đề nghị Ban soạn thảo luật đưa ra giải pháp hợp lý hơn. Hầu hết các nước chống đầu cơ và lãng phí đất bằng thuế đất cao và phạt sai tiến độ, không áp dụng biện pháp thu hồi đất không bồi hoàn này, trừ những trường hợp đặc biệt. Chúng ta cũng có thể làm như vậy.

Ba, về việc thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án mà Nhà nước không thực hiện việc thu hồi đất quy định tại Điều 58 của dự luật. Theo điều này thì chỉ các tổ chức kinh tế 100% vốn Việt Nam mới được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Các tổ chức dân doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không có quyền này. Theo chúng tôi hiểu thì tổ chức phát triển quỹ đất ở từng địa phương sẽ làm công tác giải phóng mặt bằng theo quy hoạch hàng năm và tổ chức đấu giá hoặc giao đất, cho thuê đất với các doanh nghiệp này. Liệu các tổ chức phát triển quỹ đất đó có đủ nguồn lực, cụ thể là tiền và sự linh hoạt để không làm chậm trễ quá trình đầu tư của các doanh nghiệp hay không? Cũng cần lưu ý là khi nói về doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì cần làm rõ những doanh nghiệp mà trong đó vốn trong nước chiếm trên 50%. Những doanh nghiệp này nên được coi là các tổ chức kinh tế trong nước.

Bốn, về việc thu hồi đất mà không bồi thường đối với đất thuê của Nhà nước, đề nghị làm thật rõ bởi hiện có hàng ngàn dự án trên cả nước đang thuê đất của Nhà nước. Trong đại đa số trường hợp, người đóng góp đất là do chính người sử dụng đất hiện tại bồi thường cho người sử dụng đất trước đây, sau đó giao lại cho Nhà nước và được Nhà nước cho thuê đất. Nói rõ hơn thì những người này làm hộ Nhà nước công tác đền bù bằng chi phí của chính mình để sau đó có quyền được thuê đất của Nhà nước. Nay Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất thì có hợp lý không, nhất là khi chưa cấn trừ xong tiền đền bù của doanh nghiệp đã bỏ ra đền bù để có quyền được thuê đất đó…
 
ĐBQH Nguyễn Văn Thịnh (Hưng Yên): Nhà nước nên thực hiện thu hồi đất với tất cả các trường hợp
 
Khung giá đất theo luật hiện hành do Chính phủ ban hành và phân theo từng vùng, cấp đô thị rất chung, dẫn đến các tỉnh khó thực hiện, xây dựng bảng giá đất sát với thị trường. Nhưng nếu bỏ quy định về việc giao Chính phủ ban hành giá đất thì Chính phủ không có cơ sở để xây dựng bảng giá đất, thiếu định hướng dẫn đến mỗi tỉnh xây dựng một khác và khác nhau nhiều. Tôi đề nghị phải giao Chính phủ quy định khung giá đất đến từng tỉnh cho từng loại đất và khung giá đất được giữ ổn định trong 5 năm, chỉ điều chỉnh trong trường hợp giá đất có sự thay đổi lớn theo dự thảo.

Về bảng giá đất, theo Luật Đất đai năm 2003, bảng giá đất giao cho UBND tỉnh ban hành và công bố vào ngày 1/1 hàng năm, như vậy rất mất thời gian và tốn kém, giá đất thay đổi hàng năm dẫn đến việc giải phóng mặt bằng, các công trình lớn rất khó khăn. Tôi đề nghị quy định UBND tỉnh ban hành bảng giá đất và được giữ ổn định 5 năm để làm căn cứ tính các loại thuế, phí, lệ phí và tính thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và làm căn cứ để tính bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Khi xác định giá đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất cần xác định phù hợp với giá thị trường nhằm bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, nhà đầu tư, người dân có đất bị thu hồi.

Vấn đề thứ ba, theo quy định hiện hành đang thực hiện cơ chế là Nhà nước thu hồi đất và cơ chế nhà đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất, như vậy đây là một vấn đề nảy sinh mâu thuẫn lớn. Trong cùng một khoảnh ruộng, cùng một cách đồng nhưng hai nhiệm vụ khác nhau, việc thu hồi để phục vụ công trình công cộng do Nhà nước thu hồi, người dân không có quyền được thỏa thuận, nhưng nếu phục vụ cho mục đích kinh tế thì người dân thỏa thuận hai giá khác nhau dẫn đến mâu thuẫn lớn trong việc đền bù giải phóng mặt bằng. Đồng thời việc thực hiện hai cơ chế này cùng lúc sẽ gây khó khăn trong giải phóng mặt bằng, cho nên tôi đề nghị Nhà nước thực hiện thu hồi đất với tất cả các trường hợp. Như vậy, Nhà nước khi thu hồi vào mục đích phát triển KT – XH theo Điều 54 của dự thảo Luật tôi đề nghị khi đã đủ mặt bằng “sạch” thì phải tổ chức đấu thầu cho những chủ đầu tư có nhu cầu đầu tư chứ không như hiện nay.

Thứ tư, về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng để sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tôi đề nghị đồng tình với đề nghị là thời hạn giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp là thời hạn 50 năm, có như thế thì mới đủ thời gian để hộ gia đình, cá nhân yên tâm đầu tư vào mục đích sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao.
 
ĐBQH Bùi Mạnh Hùng (Bình Phước): Dự thảo Luật có nhiều điểm mới, cụ thể hơn, rõ ràng hơn song chưa tạo được bước đột phá
 
Việc sửa đổi Luật Đất đai là yêu cầu bức thiết xuất phát từ thực tiễn cuộc sống. Tôi cơ bản nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về quan điểm và mục tiêu sửa đổi Luật Đất đai. Tôi thấy cần nhấn mạnh mục tiêu cải cách thủ tục hành chính về đất đai để vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ về đất đai, vừa bảo đảm dân chủ công khai minh bạch nhằm hạn chế tham nhũng lãng phí trong quản lý và sử dụng đất đai, vừa khắc phục được tình trạng khiếu kiện về đất đai ngày càng gia tăng như hiện nay.

Dự thảo Luật sửa đổi có nhiều điểm mới, cụ thể hơn, rõ ràng hơn song chưa tạo được bước đột phá. Tôi nhất trí với quan điểm quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nhưng đề nghị phải nêu rõ khái niệm sở hữu toàn dân, cơ chế để thực hiện quyền sở hữu đó như thế nào, Nhà nước thực hiện nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu cụ thể ra sao, quyền nào thực hiện thông qua QH và HĐND các cấp và quyền nào thực hiện thông qua Chính phủ và UBND các cấp. Trong dự thảo Luật quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai chưa được thể hiện rõ. Trái lại các quy định của Luật Đất đai lại thể hiện tinh thần sở hữu Nhà nước về đất đai, thậm chí có thể hiểu sở hữu của Chính phủ về đất đai.

Quan điểm sở hữu toàn dân phải có tác dụng xuyên suốt trong các quy định của luật là linh hồn của luật, tạo ra sự nhất quán, hợp logic của các điều luật. Từ đó tạo được sự thống nhất trong việc làm và đem lại hiệu quả cao. Trong dự thảo Luật quy định quyền hạn, trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với đất đai nhưng chưa phân biệt rõ quyền hạn đó do chủ sở hữu giao hay do chức năng vốn có của Nhà nước. Vai trò của nhân dân và cơ quan dân cử còn chung chung, mờ nhạt và thiếu một cơ chế cụ thể để thực hiện việc giám sát một cách hữu hiệu. Thiếu cơ chế giám sát cụ thể của nhân dân sẽ dẫn tới lạm quyền, theo tôi đây chính là nguyên nhân của tham nhũng, nguyên nhân khiếu kiện về đất đai đã không ngừng gia tăng trong thời gian vừa qua. Nhiệm vụ của việc sửa đổi luật lần này là phải góp phần tích cực để hạn chế khắc phục được tình hình trên để bảo đảm quyền của chủ sở hữu trên thực tế. Tôi đề nghị toàn bộ luật cần được thể hiện rõ cụ thể cơ chế giám sát của nhân dân trong từng công việc thông qua cơ quan đại diện của nhân dân là QH và HĐND các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước với vai trò là đại diện của chủ sở hữu chứ không phải là chủ sở hữu. Tôi đề nghị Chương II cần thiết kế lại và đổi tên thành Chương chủ sở hữu về đất đai và nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu nhằm khẳng định đúng vị trí pháp lý của Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai theo sự ủy nhiệm của toàn dân, trên tinh thần đó sẽ xuyên suốt các quy định của luật. Cũng trong Chương II, tôi đề nghị cần có một quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai. Đồng thời có một mục để quy định về chức năng quản lý của Nhà nước đối với đất đai.

Về chương thu hồi đất là Chương V, dự thảo Luật đã quy định cụ thể hơn so với luật cũ về các trường hợp thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng, các trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển KT - XH, các trường hợp thu hồi đất do vi phạm Luật Đất đai, các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt sử dụng đất và tự nguyện. Đây là một điểm tích cực, các quy định này sẽ là căn cứ để xác định tính đúng đắn của các quyết định thu hồi đất, góp phần giảm bớt sự lạm quyền. Tuy nhiên, việc giao thẩm quyền thu hồi đất cho UBND các cấp vẫn thiếu một cơ chế giám sát chưa thể hiện được vai trò của chủ sở hữu, của nhân dân về đất đai. Theo tôi, cần quy định cơ chế giám sát ngay từ việc ra chủ trương thu hồi đất có đúng quy hoạch không, có thực sự cần thiết không, có hiệu quả không và có khách quan không?

Về phương án thu hồi đất tái định cư phải bắt buộc tổ chức công khai trước nhân dân, giải quyết xong các vướng mắc trước khi tiến hành thu hồi đất, quy định rõ cơ chế giám sát trong từng khâu của việc thu hồi đất sẽ góp phần ngăn chặn việc lợi dụng thu hồi đất không vì mục đích chung, đúng với quan điểm đất đai là sở hữu của toàn dân.

Minh Vân lược ghi