Sử thi làm giàu nền văn học

Inrasara 01/09/2012 09:26

Truyền thống văn học người Kinh thiếu sử thi, đó là sự thiếu khuyết của một nền văn học lớn. Bù lại, các dân tộc thiểu số anh em khác trên đất nước đa dân tộc Việt Nam, thể loại văn học dài hơi này thì vô số. Dẫu sao, đó chỉ là sử thi truyền miệng được các nhà nghiên cứu sưu tầm và công bố mới đây.

Riêng người Chăm đã có sử thi được văn bản hóa từ thế kỷ thứ XVII. Bằng chữ truyền thống akhar thrah, dân tộc này đã chép trường ca, truyền thuyết, thần thoại, ca dao… hay các bài viết về phong tục, tôn giáo, về giáo huấn v.v… Và đặc biệt là sử thi. Nghĩa là cả một kho tư liệu văn học quý giá.

Giữa các thuật ngữ văn học thường được dùng trong văn bản Chăm như: ariya trường ca, dulikal truyện cổ, damnưy tụng ca… thể loại akayet được coi là sử thi. Trong đó ba tác phẩm bằng thơ được phổ biến rộng rãi trong dân là Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup. Đây là ba sử thi viết theo thể thơ ariya Chăm có nhiều nét giống lục bát Việt, xuất hiện ở Chăm vào đầu thế kỷ XVII. Ngoài ra người Chăm còn có hai akayet bằng văn xuôi là Akayet Inra Sri Bakan Akayet Pram Dit Pram Lak có nguồn gốc từ sử thi Ramayana của Ấn Độ. Có thể nói, sử thi là một trong những dòng văn học viết quan trọng của dân tộc Chăm.

Gốm Chăm Ảnh: Nguyễn Quang Tuấn
Gốm Chăm Ảnh: Nguyễn Quang Tuấn

Akayet là thuật ngữ tương đương với Hikayat trong tiếng Nam Đảo, được dịch là sử thi. Gần đây, một thể loại văn chương của các dân tộc Êđê, Bana, Giara, Raglai… được các nhà nghiên cứu gọi là sử thi. Tiếng bản ngữ là: Khan, Hơmon, Hơri, Jukar. Đây là các dân tộc thiểu số cư trú ở Tây Nguyên có quan hệ mật thiết với vương quốc Champa cổ, cả về ngôn ngữ lẫn giao tiếp cộng đồng. Các “thuật ngữ” văn học này đều có liên quan với tiếng Chăm. Khan trong tiếng Chăm là akhan hay khan nghĩa là “kể”; hơmon tiếng Chăm: mưmaun (đọc là mưmon) có nghĩa “nói thầm”; jukar tiếng Chăm: dulikal có nghĩa “truyện cổ”; còn hơri, tiếng Chăm: hari có nghĩa “ngâm đọc”.

Sở dĩ các dân tộc này vẫn còn giữ chất truyền khẩu của sử thi bởi vì họ chưa có văn tự ghi chép thành văn bản như Chăm. Do đó, sử thi họ “thuần chất” hơn, mang tính kể (khan), ngâm (hari) nhiều hơn đọc (pwơc). Người Chăm ở Bình Định, Phú Yên không dùng chữ Chăm truyền thống akhar thrah để chép văn bản văn học, cho nên sử thi của họ vẫn còn mang đậm chất dân gian, là vậy. Dân tộc Chăm vùng xuôi và khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận hiện vẫn còn truyền dạy akhar thrah. Họ ý thức dùng văn tự này chép truyện thành văn bản. Như bản Akayet Dewa Mưno chính là văn bản chuyển thể từ dulikal (truyện cổ) thành sử thi. Bước ngoặt đó thể hiện ngay ở câu đầu của sử thi nổi tiếng này:

            Dulikal Dewa Mưno twơk twei ariya.

(*) Truyện (cổ) Dewa Mưno được sáng tác (chuyển) theo thể thơ

Trước khi có sử thi thành văn, Dewa Mưno được kể như truyện cổ tích. Sự thể này có thể thấy ở hai sử thi khác. Một văn bản lưu trữ tại Pháp có tên Pram Dit Pram Lak được cho là sử thi thì người Chăm ở Phan Rang vẫn còn gọi là truyện cổ (dalikal). Văn bản thể hiện nó bằng văn xuôi. Điều cần lưu ý thêm là Sử thi Đăm Xăn của Êđê rất giống Dalikal Dơm Sơng (hay Dơm Sen) đọc là “Dăm Xăng” của người Chăm ở cốt lõi nhưng cách kể hay thể hiện thì hoàn toàn khác, đến nỗi Dơm Sơng của người Chăm nay chỉ được coi như một truyện cổ rất ngắn, dấu ấn cũng khá mờ nhạt trong tâm thức cộng đồng. Trong khi nó lại là niềm hãnh diện lớn của dân tộc Êđê.

Sử thi các dân tộc thiểu số Việt Nam là kho tàng văn học vô giá. Bên cạnh đựng chứa văn hóa dân gian các dân tộc với những bản sắc độc đáo và phong phú, hay bộc lộ nếp nghĩ cách nói đậm chất dân tộc, sử thi còn sáng lên những áng văn chương với nhiều cái đẹp đến bất ngờ. Ở sử thi Chăm do được văn bản hóa, nên tác phẩm mang dấu ấn cá nhân rõ rệt. Nhiều đoạn văn hay người đọc có thể đọc bằng mắt và thưởng thức một mình, như thưởng lãm một tác phẩm văn học viết. Ngược lại, do hầu hết sử thi Tây Nguyên thuộc thể loại văn học dân gian, nó phải sống trong không gian văn hóa sử thi đúng nghĩa.

Nhà nghiên cứu Sabatier trong bài giới thiệu sử thi Đăm Xăn đã thuật lại ý kiến của các già làng người Êđê: “Tôi hỏi các già làng: “Vậy Khan là cái gì?”. Một người trả lời: “Khan ư? Không có cái gì đẹp hơn thế. Khi trong nhà có một người kể khan, lúc mặt trời lặn chúng ta thấy người trong nhà chăm chú bất động như thế nào thì chúng ta lại thấy họ bất động y nguyên như thế cho đến lúc mặt trời mọc (việc kể khan diễn ra qua đêm đến sáng). Khi trong nhà có người kể khan, đàn bà thôi kêu la, trẻ con ngừng khóc, không hề ai ngủ, không ai nói chuyện, tất cả mọi người đều lắng nghe” (Phan Đăng Nhật, Nghiên cứu sử thi Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 2001).

Văn hóa người Chăm chưa trải qua kỹ thuật in ấn, còn sử thi các dân tộc thiểu số Tây Nguyên - bởi là văn học dân gian, nên việc thất tán và thất truyền là khó tránh. Nhất là khi không gian văn hóa sử thi bị phá vỡ, người chép sách (với Chăm) ngày càng ít, già làng và nghệ nhân kể (hát) sử thi (Tây Nguyên) ngày càng luống tuổi, thì nguy cơ thất thuyền càng lớn hơn, nhanh hơn. Sử thi đã kêu cứu! 

May thay, từ đầu thế kỷ XXI, sử thi Tây Nguyên được lên đề án sưu tầm, dịch thuật và phân loại ở tầm quốc gia. Sau mười năm miệt mài, 62 tập với 60.000 trang in song ngữ tiếng Việt và tiếng dân tộc do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và các tỉnh Tây Nguyên ấn hành, là một khối lượng đồ sộ và có thể được coi là kỷ lục. Việc các nhà nghiên cứu đề xuất UNESCO đưa sử thi Tây Nguyên vào danh mục văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại là cần thiết. Bởi, có thể nói không quá rằng, sử thi là niềm hãnh diện không chỉ riêng người Tây Nguyên, mà còn là niềm hãnh diện chung của nền văn học đa dân tộc Việt Nam.

Inrasara