Chế độ bảo hiến
Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đều có những định chế bảo hiến bằng con đường tư pháp khá giống với các chính quyền hợp hiến ở phương Tây. Xét bề ngoài, Tòa án tối cao Nhật Bản khá giống Tòa án tối cao Mỹ trên phương diện tài phán hiến pháp, còn Tòa án hiến pháp ở Hàn Quốc và Đài Loàn khá giống với Tòa án hiến pháp ở các nước châu Âu. Tuy nhiên, không giống như các định chế bảo hiến ở phương Tây hăng hái trong việc vô hiệu hóa các hành động bất hợp hiến của ngành lập pháp và hành pháp, các định chế bảo hiến ở Đông Á hành động khá thận trọng với tinh thần tự kiềm chế.
![]() |
Ở Nhật Bản, Tòa án tối cao thực thi quyền bảo hiến khá thận trọng, chỉ tuyên bố bất hợp hiến các hành vi của Chính phủ trong một số ít trường hợp và ít khi vô hiệu hóa các đạo luật của ngành lập pháp. Đối với những ai quen thuộc với một nền tư pháp hành động năng động trong việc đưa ra các giải pháp có tính chất bắt buộc, nền tư pháp của Nhật Bản có vẻ yếu và bất lực.
Tòa án Hiến pháp Hàn Quốc có vẻ mạnh mẽ hơn Tòa án tối cao Nhật Bản nhưng vẫn hành động hết sức thận trọng. Trong vụ dời đô, Tòa án đã đi ngược lại dự án của Tổng thống về việc dời thủ đô Seoul khi Tòa án xem Seoul là thủ đô của đất nước và điều này là một tập quán hiến pháp bất thành văn. Khi đi ngược lại chính sách của Tổng thống, Tòa án có vẻ rơi vào một mối nguy hiểm chính trị nhưng Tòa án rất tự tin trong phán quyết của mình vì biết rằng, việc di dời thủ đô không nhận được sự đồng thuận của đa số chính trị gia và không có một đảng nào đủ mạnh để kiểm soát Quốc hội vào thời điểm đó.
Cơ quan tài phán hiến pháp Đài Loan cũng có thái độ cẩn trọng tương tự. Vì tranh chấp chính trị ở Đài Loan rất mãnh liệt nên Tòa án cũng phải tham gia vào các vụ án quan trọng và nhạy cảm về chính trị, khi đó, nó có hai con đường để giải quyết loại vụ án này. Thứ nhất, nếu sự đồng thuận về chính trị rõ ràng, Tòa án cũng sẽ rất minh bạch trong việc nói ra đa số chính trị mong chờ điều gì bằng ngôn ngữ hiến pháp. Giải thích Hiến pháp số 261 của Tòa án về việc các dân biểu thâm niên phải rời vị trí và ấn định thời hạn bầu cử là một ví dụ điển hình cho loại thái độ này của Tòa án. Sở dĩ Tòa án đưa ra phán quyết như vậy là vì trong Hội nghị các vấn đề quốc gia đã có một sự đồng thuận toàn quốc về việc dân chủ hóa toàn diện và đình chỉ hoạt động của nghị viện cũ. Ngược lại, nếu chính trị bị chia rẽ, Tòa án sẽ không rõ ràng trong các phán quyết của nó, thậm chí thể hiện thái độ mơ hồ.
Nếu đem so sánh những hiện tượng nói trên với các cơ quan bảo hiến phương Tây, sự khác biệt rất rõ ràng. Về nguyên lý chung, các cơ quan tư pháp bảo hiến phương Tây được xem là đi ngược lại ý kiến của đa số khi đưa ra phán quyết vô hiệu hóa các đạo luật được ngành lập pháp, ngành đại diện cho ý chí của nhân dân ban hành. Nếu hành động của chính quyền trong một nền dân chủ thực sự phản ánh ý chí của nhân dân thì sự vô hiệu hóa của ngành tư pháp đối với hành động của chính quyền là đi ngược lại ý chí nhân dân. Vấn đề sẽ càng phức tạp hơn khi sự kiện có nhiều điểm tranh cãi không thống nhất được; ví dụ như trường hợp đa số bỏ phiếu để áp đặt thuế thu nhập đối với người giàu. So với các định chế tài phán hiến pháp phương Tây, các cơ quan bảo hiến ở Đông Á, trong sự thận trọng của nó, không có khuynh hướng đi ngược lại đa số. Nó có khuynh hướng thăm dò sự đồng thuận của đa số trước khi đưa ra phán quyết và các phán quyết này có khuynh hướng nương theo đa số thay vì đi ngược lại đa số. Các tòa án ở Đông Á trong khi thực thi quyền bảo hiến luôn có thái độ tôn trọng ngành lập pháp và ngành hành pháp, một thái độ có tính truyền thống ở phương Đông, nơi mà các quan tòa thường tôn trọng quan điểm của các nhà cầm quyền.
Nhận xét về các định chế bảo hiến ở Hàn Quốc và Đài Loan, Tom Ginsburg cho rằng, mặc dù các tòa án hiến pháp ở đây được thành lập theo mô hình của Tòa án hiến pháp phương Tây, nhưng một khi đã được thành lập và thoát khỏi những hạn chế của chế độ độc đoán, các thẩm phán hiến pháp đã điều chỉnh cấu trúc định chế của riêng họ. Vị giáo sư Đại học Chicago này kết luận: “Tài phán hiến pháp (ở Hàn Quốc và Đài Loan) ở mức độ nhất định đã được bản địa hóa bởi sự tương tác của nó đối với điều kiện và chính trị bản địa”.
Bài báo được đăng trên trang Nghị viện thế giới thứ sáu hàng tuần, báo Đại biểu nhân dân, được hoàn thành trên cơ sở bài nghiên cứu của Ts. Bùi Ngọc Sơn, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội; NCS Đại học Hong Kong
Nguồn: nclp.org.vn
