Vượt qua số phận
Đề tài về số phận đã ấp ủ từ lâu, nay mới đề cập tới, có lẽ vẫn là thời sự khi mà toàn Đảng, toàn dân đang triển khai sâu rộng Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng. Khi mà, hơn bao giờ hết, chúng ta phải rũ bỏ bùn lầy để đứng dậy… ĐBQH, TSKH, HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN không có ý định giảng về số phận mà luận bàn về nó, như xếp thêm một viên gạch cho sự trường tồn của đất nước.
PV: Thưa Hòa Thượng, dân gian thường nói mỗi dân tộc, mỗi đất nước, mỗi con người đều có số phận. Số phận như định mệnh. Khó có thể vượt qua nó. Chấp nhận nó là hợp quy luật – nghe ra như duy tâm. Chúng ta có thể nhìn số phận qua con mắt của duy vật được không?
HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN: Sinh ra ở đời, con người bị rơi vào nhiều giới hạn: giới hạn bản thân, gia đình và hoàn cảnh xã hội. Sinh ra với màu tóc, màu da, dung sắc, sức khỏe đều ngoài ý muốn cá nhân. Sinh vào gia đình nghèo khó, làm lụng vất vả suốt ngày, không có điều kiện để phát triển kiến thức, nghề nghiệp, phải nhận chịu thân phận an bần. Sinh vào thời kỳ chiến tranh loạn lạc thì đời sống lầm than. Đời sống thì với dòng chảy vô thường biến diệt: may mắn xen kẽ rủi ro; thương yêu xen kẽ ghét hận; khen đi theo chê; được đi cùng mất; thành công đi cùng thất bại... Lắm phen con người không thể vượt qua các khó khăn mà buông lời than thân trách phận, cho rằng con người sinh ra là do số phận, định mệnh hay tiền định. Với một cộng đồng dân tộc cũng thế. Vấn đề đúng là vượt qua khó khăn, mà không phải vượt qua số phận.
Thi tài Nguyễn Du, qua 15 năm đoạn trường của Thúy Kiều, đã đúc kết:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”
Và, “Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan”
Trời ở đây, là chỉ hoàn cảnh khách quan của cuộc sống; ta là chỉ ý chí nỗ lực phấn đấu, quyết định của cá nhân.
Tư duy của Nguyễn Du là tư duy tiêu biểu rất thực tế, rất thực, thoát ra khỏi các chủ trương định mệnh, thiên mệnh, số phận hay có một năng lực siêu nhiên can thiệp vào đời.
Nhà Phật thì nhìn đời với trí tuệ, tuyên bố sự thật rằng mọi hiện hữu đều do điều kiện sinh, nhân duyên sinh (theo giáo lý Duyên Khởi). Con người thì bị ràng buộc với nghiệp lực (các hành động cố ý của quá khứ và hiện tại): con người là chủ nhân của nghiệp và là kẻ nhận chịu hậu quả các hành động của nghiệp. Chẳng có gì khác, chẳng có năng lực siêu nhiên nào can thiệp vào. Trong mỗi người đều có một tiềm năng vô hạn (mà theo nhà Phật gọi là Phật tính) có thể vận dụng để chiến thắng mọi khó khăn, bao gồm cả nỗi khổ đau thâm trầm của sinh tử (nghĩa là có thể giác ngộ thành Phật). Trong mỗi người đều có nguồn trí tuệ, nguồn từ bi, nguồn dũng cảm vô úy và nguồn vị tha vô tận. Nếu các nguồn lực đó được mọi người dân khai thác, thì lo gì không làm chủ được cuộc sống, làm chủ được lịch sử. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy đời Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần đã để lại các thành quả lịch sử rất giá trị: chiến thắng quân Nguyên – Mông phải là sức mạnh của tâm thức (tinh thần), do tâm thức quyết định. Nếu là sức mạnh thuần túy vật chất thì tại sao nhiều nước ở châu Âu và đời Tống (Trung Quốc), với sức mạnh kinh tế và quân sự, đã thất bại. Trên thực tế, theo cái nhìn của Phật giáo, thì hai sức mạnh tinh thần và vật chất cùng có mặt trong một con người, trong một xã hội. Phật giáo vượt lên trên duy vật và duy tâm (phương Tây). Trí tuệ Phật giáo không chấp thủ vào tâm hay vật, bởi sự thật ở đời tâm và vật cộng sinh, cộng tồn. Con người hãy làm chủ lấy mình, và xã hội hãy làm chủ lấy mình.
|
|
PV: Với địa - chính trị như đất nước ta khiến các thế lực ở mọi thời đại nhòm ngó, mà không còn nhòm ngó, họ đã dùng vũ lực để áp đặt sự thống trị - số phận ấy là của chúng ta. Nhưng không, chúng ta đã kiên cường và làm nên số phận anh hùng. Thưa thầy đó cũng là quy luật chứ? Chúng ta đã chống lại số phận nô lệ để có một số phận hùng cường, thưa thầy, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn cũng là quy luật chứ?
HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN: Đến đây thì chúng ta không nói đến số phận nữa, mà chỉ đề cập đến hoàn cảnh khách quan. Điều kiện địa lý khách quan của Việt Nam là điều kiện mời gọi sự nhòm ngó xâm lược, mời gọi sự bảo hộ, xâm lược: một vị thế vừa thuận cho giao thương, có nhiều tài nguyên núi và biển, và thuận cho việc kiểm soát vùng biển Đông và Đông Nam châu Á. Vị thế đó mở ra hai mặt bất lợi và lợi. Về bất lợi thì đã rõ. Về lợi thì nếu Việt Nam độc lập, tự chủ, giữ gìn bền bỉ nền độc lập, tự chủ, Việt Nam sẽ có điều kiện rất tốt cho giao thương, giao hảo, cho phát triển mặt biển (nay đã là lúc văn minh của cảng biển) để phát triển xã hội. Vị thế đó thúc đẩy nhân dân Việt Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh sinh tồn: vì sự tồn tại và phát triển; Việt Nam chỉ có một hướng đi mạnh về quốc phòng, kinh tế và thể hiện, luôn luôn thể hiện đại đoàn kết dân tộc. Vị thế đó giúp Việt Nam phát triển mạnh năng lực tự chủ và cảnh giác, phát triển cao lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình. Việt Nam chỉ có một chọn lựa: hùng cường hay lệ thuộc. Lịch sử dân tộc đã cho thấy sự thật đó. Đây không phải là quy luật mà là tiếng nói sinh tồn và tự do, hạnh phúc của trí tuệ. Chừng nào trí tuệ dân tộc còn tỏa sáng thì Việt Nam sẽ độc lập, hùng cường và tiếp tục hùng cường. Đây cũng là bài học về lịch sử và trí tuệ để lại cho các thế hệ mai sau: trí tuệ sẽ biết vận dụng cho sinh tồn và phát triển; trí tuệ luôn đi đôi với sự sáng suốt, nhân ái và vị tha. Phải chăng đó là tài sản mà dân tộc cần có và trưởng dưỡng.
PV: Nhìn sâu vào lịch sử, và ngay cả thời hiện đại có người nhận xét mỗi khi đất nước bị đẩy vào thế hiểm nghèo, chúng ta đều có bước đứng dậy ngoạn mục. Năm 1986 đổi mới là một ví dụ. Và hôm nay trước những vấn đề cấp bách, Nghị quyết T.W.4 của Đảng có thể coi là một đột phá – sự đột phá muốn thay đổi số phận với tuyên ngôn đây là cách mạng của sự trong sạch? Xin Thầy chỉ rõ thêm?
HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN: Như cái lò xo, càng ấn xuống sâu, lò xo càng bùng lên mạnh. Đấy là quy luật tự nhiên. Về con người, xã hội thì có sự thật gọi là quy luật: “cùng tắc biến, biến tắc thông” (cùng đến cực điểm thì thay đổi, thay đổi thì khai thông). Lịch sử Việt Nam đã cho thấy rõ sự thật ấy: những lúc đất nước bị lệ thuộc hay lâm nguy, thì thường có những cuộc “vùng dậy” và vùng dậy thành công. Khi nỗi thống khổ của nhân dân Việt Nam, dưới thời thuộc Pháp, lên đến cao độ, các nhà yêu nước đã vùng lên tìm đường cứu dân, cứu nước: Hồ Chí Minh đã thành công rực rỡ trên con đường cứu nước nầy; cách mạng Việt Nam cận đại và hiện đại đã thành công trong việc đổi đời cho dân, cho nước. Khi nền kinh tế Việt Nam, sau năm 1975, bế tắc trong hướng phát triển, thì cuộc đổi mới năm 1986 đã mở đường khai thông. Khi tình hình tiêu cực của cán bộ đã đến hồi phổ biến, thì cuộc phát động học tập gương đạo đức Bác Hồ và Nghị quyết Trung ương 4 ra đời. Cuộc học tập đạo đức cách mạng, và thực thi nghị quyết Trung ương 4 là ý nghĩa “biến” trong “cùng tắc biến”. Nay chỉ còn chờ đợi kết quả khai thông trong ý nghĩa “biến tắc thông”. Dòng chảy của sự sống cứ thế đi tới mãi, đi về hướng kinh tế giàu mạnh, đất nước hùng cường, an ninh, quốc phòng vững chắc. Từ “biến” đến “thông” là lộ trình của diễn biến, hành động, kéo dài thời gian dài, ngắn tùy theo đối tượng. Mong rằng lần “biến” này sớm “thông”, bởi đất nước và nhân dân còn rất nhiều việc để làm, phải làm vì sự hưng vượng của xứ sở. Chỉ có một điều giản dị mà nhân dân, và lịch sử, yêu cầu là người cán bộ, đảng viên, công chức trở về thực hiện đúng thiên chức của mình. Thế thôi. Giản dị thế mà lại là một ước vọng thiết tha nhất của nhân dân, thời đại, một ước vọng muôn thuở. Nhìn thấy tình hình tiêu cực đó đây mà ngậm ngùi. Là người dân của đất nước, ai mà chẳng ngậm ngùi. Nếu có nhiều cán bộ thương dân, thương nước thì tiêu cực sẽ dần bị đẩy lui. Có lẽ giáo dục gia đình, học đường và xã hội cần quan tâm nhiều, nhiều hơn nữa về giáo dục đạo đức, đạo làm người, một điều rất xưa cũ nhưng cần thiết mãi: con người tốt là yếu tố quyết định thành công của cách mạng, xây dựng và bảo vệ đất nước.
PV: Phật giáo vào Việt Nam đã hơn hai ngàn năm, đã nếm mật nằm gai cùng dân tộc, đã hưởng thái bình cùng dân tộc. Bài học mà Phật giáo và dân tộc thay đổi số phận mình, tạo dựng nên số phận mình là gì, thưa Thầy?
HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN: Phật giáo Việt Nam đã đồng hành với dân tộc suốt hai nghìn năm. Nội dung của con đường giáo dục con người của Phật giáo chỉ quy vào ba điểm cơ bản: (1) giúp người đời hiểu mà từ bỏ tất cả các hành động bất thiện; (2) giúp người đời hiểu và làm các điều thiện; và (3) giúp người đời hiểu mà giữ gìn tâm ý thanh tịnh (trong sạch và an lạc giải thoát). Phương thức thực hiện là thực hành Giới (kiểm soát các hành động của thân, lời và ý); thực hành thiền định (giữ tâm định tỉnh, an lạc có sức tập trung cao để phát triển tâm ý); và phát triển trí tuệ (thấy rõ sự thật như thật của cuộc đời; thấy rõ khổ đau và các nguyên nhân của khổ đau; thấy rõ sự giải thoát khổ đau và con đường đi ra khỏi mọi nỗi khổ đau). Bên cạnh các giáo lý căn bản ấy, Phật giáo còn giúp người đời phát triển tâm từ bi, thực hành bố thí (giúp đỡ tha nhân vượt qua các khó khăn về vật chất và tinh thần), thương yêu đồng loại, chúng sinh. Tính chất của giáo lý là khế lý (phù hợp với con đường giải thoát) và khế cơ (thích ứng với căn cơ, trình độ, văn hóa, tập quán, phong tục của người đời). Vì thế, Phật giáo phát triển ở nơi nào là giúp cho đời sống nơi đó thăng hoa, mà không chống trái. Tinh thần khế cơ nầy đã giúp Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc suốt hai nghìn năm qua. Tinh thần khế cơ ấy đã giúp Phật giáo Việt Nam chia sẻ với các thăng trầm của lịch sử Việt Nam, tham gia bàn bạc phương pháp cứu dân, cứu nước lúc lâm nguy, và xây dựng, phát triển xứ sở lúc thanh bình. Tinh thần khế cơ và hộ đời ấy đã giúp Phật giáo Việt Nam phát triển giáo lý Ngũ minh: Nội minh (thông rõ về Kinh, Luật, Luận); Nhân minh (thông rõ về lẽ chánh tà, chân ngụy, tương tự luận lý học); Thanh minh (thông rõ về ngôn ngữ, văn tự); Công xảo minh (thông rõ về công nghệ, kỹ thuật, toán pháp, lịch số để giúp đời); và Y phương minh (thông rõ về y học để giúp đời) – Về ngũ minh này, mỗi một cá nhân tu sĩ khó có thể thông rõ tất cả, nhưng với tổ chức của Giáo hội thì thường có đủ. Đấy là con đường sống mỗi người tự giải thoát mình, và giúp tha nhân giải thoát, khỏi mọi phiền não, khổ đau ở đời. Đấy là con đường rất nhân văn, rất thiết thực, tích cực và trí tuệ, chủ trương con người tự làm chủ đời mình, tự cứu mình, tự trách nhiệm, mà không có bàn tay siêu nhiên nào can thiệp vào.
Hiểu rõ con đường giáo lý ấy, các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, và Trần đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển thành văn hóa Việt Nam – dưới triều đại Lý, Trần (Phật giáo như là quốc giáo) – triều đình tạo điều kiện cho Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc Việt Nam tạo thành một sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng trí tuệ, từ bi và tự chủ. Các vị quốc vương và nhiều triều thần Lý, Trần đã vừa lo quốc sự vừa thực hành giáo lý giải thoát của nhà Phật làm nên một thời kỳ lịch sử dài bốn thế kỷ Việt Nam hùng cường, hưng vượng. Các quốc vương đã quảng bá trong nhân dân tinh thần độc lập, tự chủ, đập vỡ các thứ nô lệ của giáo lý nhà Phật. Các vị quốc vương cũng truyền bá giáo lý từ bi, vị tha, yêu chuộng hòa bình, giáo lý thiền định và trí tuệ để vận dụng vào việc giữ nước và dựng nước, và tinh thần giáo lý tự chủ, nhân bản xây dựng nhận thức: tự làm chủ đời mình và xã hội mình. Đấy là bài học lịch sử để lại một kinh nghiệm lịch sử quý giá cho nhiều đời sau.
PV: Chân thành cám ơn Hòa thượng đã chia sẻ và khai minh!
